|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – AN GIANG Bản án số: 284/2025/DS-ST Ngày: 22-12-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Tấn Kiệt
- Bà Lê Thị Bích Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 8 – An Giang.
Trong các ngày 12 và 22 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 289/2025/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2025, về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần P (O); địa chỉ: Tòa nhà T, số A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa nhà T, số A T, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh); người đại diện hợp theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T, chức vụ: Chủ tịch HĐQT; người đại diện theo ủy quyền: Thiệu Á – Trưởng Phòng Xử lý nợ (theo văn bản ủy quyền số 14/2024/UQ-CT.HĐQT ngày 06/5/2024 của Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Thương mại cổ phần P). Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Bùi Văn M- Chuyên viên Thu hồi nợ hiện trường – TT.XLN (theo Giấy ủy quyền số 274.01A/2025/UQ-OCB ngày 19/3/2025 của Trưởng phòng Xử lý nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần P); ông M có mặt.
- Bị đơn: Ông Ngô Phúc L, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp N, xã K, tỉnh An Giang; vắng mặt.
2
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lý Nguyễn Cẩm V, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp N, xã K, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/3/2025, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ngày 24/4/2018, ông Ngô Phúc L ký Hồ sơ đề nghị vay vốn kiêm thỏa thuận cho vay và đăng ký sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng Com-B số: B BCL0200136012 với Ngân hàng Thương mại cổ phần P (sau đây gọi tắt là O) để xin vay tiền sửa chữa nhà ở. Ngày 03/5/2018, OCB phê duyệt và quyết định cấp tín dụng cho ông Ngô Phúc L tổng các khoản là 62.700.000 đồng. Ngày 05/5/2018, O đồng ý giải ngân cho ông L vay số tiền 62.700.000 đồng, lãi suất vay là 35%/năm bằng hình thức tin nhắn SMS qua số điện thoại của ông L cung cấp là 0918528886. Đến ngày 07/5/2018, O đã giải ngân cho ông L số tiền theo nội dung tin nhắn SMS, thời hạn vay từ 08/5/2018 đến ngày 03/5/2021, trả nợ vào ngày 01 hàng tháng, kỳ đầu tiên trả vào ngày 01/6/2018, số tiền phải trả là 2.512.000 đồng, từ kỳ thứ hai đến kỳ thứ 35 thanh toán mỗi kỳ là 2.837.000 đồng, kỳ cuối cùng thanh toán 2.888.237 đồng. Hàng tháng, OCB đều gửi tin nhắn SMS cho khách hàng để thông báo về việc thanh toán nợ. Ngày 02/10/2018, OCB gửi tin nhắn SMS cho ông Ngô Phúc L thông qua số điện thoại ông L cung cấp cho OCB để thông báo lãi suất trong trường hợp ông L chậm thanh toán là 52,5%/ tháng.
Trong quá trình vay, ông L chỉ thanh toán được 36.619.000 đồng, trong đó nợ gốc là 17.212.766 đồng, tiền lãi là 19.343.234 đồng, tiền lãi trên gốc quá hạn là 50.398 đồng, lãi trên lãi quá hạn là 12.602 đồng. Ngày cuối cùng ông L thanh toán cho OCB là 26/5/2020, đến nay chưa thanh toán thêm cho OСВ.
Ngày 20/9/2025, O có Đơn đề nghị bổ sung đương sự - người liên quan đề nghị Tòa án đưa vợ ông Ngô Phúc L là bà Lý Nguyễn Cẩm V tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để cùng liên đới với ông L trả nợ cho ngân hàng. Lý do OCB đưa ra yêu cầu này là vì: mục đích vay tiền là để xây, sửa chữa nhà ở, ông L và bà V là vợ chồng hợp pháp và là người có tên trong danh sách người tham chiếu, xác minh, cùng thụ hưởng khoản vay.
Như vậy ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mặc dù đã được ngân hàng thông báo, nhắc nhở nhiều lần. Tính đến ngày xét xử (22/12/2025), ông L còn nợ OCB 209.702.613 đồng, trong đó tiền gốc là 45.487.234 đồng, tiền lãi trong
3
hạn là 19.815.003 đồng, tiền lãi trên gốc quá hạn là 132.357.398 đồng, lãi trên lãi quá hạn là 12.042.978 đồng.
Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L và bà V phải liên đới thanh toán cho ngân hàng số tiền nêu trên; ngoài ra, còn phải thanh toán tiền lãi và phí phát sinh kể từ sau ngày xét xử trở đi cho đến khi thanh toán hết nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Ngô Phúc L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lý Nguyễn Cẩm V không gửi văn bản ý kiến cho Tòa án.
Tại phiên tòa: ông Bùi Văn M đại diện OCB yêu cầu ông Ngô Phúc L và bà Lý Nguyễn Cẩm V phải liên đới trả cho O 45.487.234 đồng tiền gốc, tiền lãi trong hạn là 19.815.003 đồng; tự nguyện giảm ½ số tiền lãi quá hạn, chỉ yêu cầu ông L, bà V trả số tiền lãi quá hạn là 72.200.188 đồng. Tổng cộng các khoản OCB yêu cầu ông L và bà V liên đới thanh toán là 137.502.425 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại cổ phần P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Ngô Phúc L và bà Lý Nguyễn Cẩm V liên đới thanh toán nợ phát sinh từ thẻ tín dụng của ông Ngô Phúc L, mục đích ông L vay tiền là để sửa chữa nhà ở nên đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng; bị đơn ông Ngô Phúc L có nơi cư trú tại ấp N, xã K, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[2] Về thủ tục tố tụng:
- Quan hệ pháp luật của vụ án là Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa một bên là tổ chức tín dụng với một bên là công dân đều là người đã thành niên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên không thuộc trường hợp có Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
- Trong Hồ sơ đề nghị vay vốn kiêm thỏa thuận cho vay và đăng ký sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng Com-B số: B BCL0200136012 ngày 24/4/2018 ông Ngô Phúc L ghi địa chỉ của mình là khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp N, xã K, tỉnh An Giang). OCB đã khởi kiện đúng địa chỉ mà khách hàng cung cấp nên Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết theo thủ tục chung. Ông L và bà V đã được triệu tập hợp lệ đến
4
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên HĐXX căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông L và bà V.
[3] Về nội dung vụ án: căn cứ Hồ sơ đề nghị vay vốn kiêm thỏa thuận cho vay và đăng ký sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng Com-B số: B BCL0200136012 ngày 24/4/2018 do ông Ngô Phúc L ký tên, ngày 03/5/2018, OCB phê duyệt và quyết định cấp tín dụng cho ông Ngô Phúc L tổng các khoản là 62.700.000 đồng theo Hợp đồng số BCL0200136012 ngày 03/5/2018. Ngày 05/5/2018, O đồng ý giải ngân cho ông L vay số tiền 62.700.000 đồng, lãi suất vay là 35%/năm bằng hình thức tin nhắn SMS qua số điện thoại của ông L cung cấp là 0918528886. Đến ngày 07/5/2018, O đã giải ngân cho ông L số tiền theo nội dung tin nhắn SMS, thời hạn vay từ 08/5/2018 đến ngày 03/5/2021, trả nợ vào ngày 01 hàng tháng, kỳ đầu tiên trả vào ngày 01/6/2018, số tiền phải trả là 2.512.000 đồng, từ kỳ thứ hai đến kỳ thứ 35 thanh toán mỗi kỳ là 2.837.000 đồng, kỳ cuối cùng thanh toán 2.888.237 đồng. Hàng tháng, OCB đều gửi tin nhắn SMS cho khách hàng để thông báo về việc thanh toán nợ. Ngày 02/10/2018, OCB gửi tin nhắn SMS cho ông Ngô Phúc L thông qua số điện thoại ông L cung cấp cho OCB để thông báo lãi suất trong trường hợp ông L chậm thanh toán là 52,5%/ tháng.
Xét thấy, tại mục B.Nội dung đề nghị vay vốn có nội dung “Tôi đồng ý rằng, ngay khi tôi được giải ngân số tiền cho vay theo chấp thuận của O và nằm trong khoảng tối thiểu và tối đa nêu ở phần B-Nội dung đề nghị vay vốn. Tôi sẽ trở thành Bên vay trong Thỏa thuận cho vay mà một phần không tách rời của nó (theo mẫu) tại "Bản điều khoản và điều kiện giao dịch chung sản phẩm cho vay phục vụ nhu cầu đời sống”- được niêm yết công khai tại T thông tin điện từ (website: https://www.och.com.vn) và Trụ sở của Bên cho vay trước khi Bên vay ký xác nhận thỏa thuận cho vay này. Tôi xác nhận các yêu cầu của tôi về số tiền đề nghị vay, thời hạn vay, lãi suất vay nêu tại phần này chỉ mang tính chất tương đối theo thông tin do tôi cung cấp. Số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất vay sẽ được xem xét và quyết định sau khi O tiến hành thẩm định và phê duyệt theo quy định của O từng thời kỳ. Tôi tự nguyện đồng ý với các quyết định của O và cam kết không có bất kỳ khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp gì với OCB về nội dung này.”, tại mục C. Thỏa thuận về hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng có nội dung “Tôi đồng ý rằng, ngay khi tôi được phê duyệt phát hành thẻ Tín dụng theo Hạn mức tín dụng được chấp thuận phê duyệt của O. Tôi sẽ trở thành Chủ thẻ trong hợp đồng phát hành thẻ tin dụng M-OCB mà một phần
5
không tách rời của nó (theo mẫu) lại “Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế M-OCB Mastercard"- dupe niêm yết công khai tại T thông tin điện tử (website: https://www.ocb.com.vn) và Trụ sở của OCB trước khi tôi ký xác nhận hồ sơ yêu cầu mở thẻ này”.
Như vậy, thông qua việc ký giấy đề nghị vay tiền của OCB, ngày 05/5/2018 ông L đã nhận được tin nhắn của O về việc giải ngân số tiền vay cùng với mức lãi suất và phương thức thanh toán khoản vay. Ông L không có ý kiến phản hồi theo thông báo của O nên ngày 07/5/2018, OCB tiến hành giải ngân số tiền vay theo thông báo của O cho ông L. Ông Ngô Phúc L đã biết về số tiền vay, lãi suất vay, lãi suất quá hạn và số tiền của từng kỳ phải thanh toán cho O thông qua các tin nhắn SMS mà O đã gửi cho ông vào số điện thoại mà ông cung cấp cho OCB. Đây được coi như ông L đã chấp nhận vay tiền theo chính sách của OCB theo đề nghị vay tiền mà ông đã ký vào ngày 24/4/2018. Sau khi vay tiền, ông L không thanh toán nợ đúng kỳ hạn đã được thông báo là đã vi phạm thỏa thuận nên việc OCB khởi kiện yêu cầu ông phải thanh toán nợ còn lại là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Xét yêu cầu của O đề nghị bà Lý Nguyễn Cẩm V – vợ ông Ngô Phúc L phải cùng liên đới trả nợ cho OCB, HĐXX thấy rằng: theo phê duyệt của O thì mục đích cho ông Ngô Phúc L vay tiền là để sửa chữa nhà ở mà hiện nay vợ chồng ông Ngô Phúc L và vợ là bà Lý Nguyễn Cẩm V đang sinh sống; ông L và bà V chưa có bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nên ông L và bà V vẫn còn là vợ chồng hợp pháp. Do đó, bà V phải chịu trách nhiệm liên đới với ông L trong việc trả nợ cho OCB theo quy định tại Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của OCB tự nguyện giảm ½ tiền lãi quá hạn đối với ông L, bà V, chỉ yêu cầu ông L, bà V thanh toán số ½ số tiền lãi quá hạn còn lại là 72.200.188 đồng (đả giảm 72.200.188 đồng lãi quá hạn). Xét thấy, đây là sự tự nguyện của OCB, có lợi cho ông L, bà V, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên Tòa án ghi nhận. Từ đó, HĐXX thống nhất buộc ông Ngô Phúc L và bà L1 Nguyễn Cẩm V phải liên đới trả cho OCB số tiền vay gốc và lãi tính đến ngày xét xử là 137.502.425 đồng, trong đó, tiền gốc là 45.487.234 đồng, tiền lãi trong hạn là 19.815.003 đồng; lãi quá hạn là 72.200.188 đồng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
6
- Buộc ông Ngô Phúc L và bà Lý Nguyễn Cẩm V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật trên số tiền phải trả cho O là 137.502.425 đồng x 5% = 6.875.121 đồng (làm tròn là 6.875.000 đồng).
- Yêu cầu khởi kiện của OCB được chấp nhận nên OCB không phải chịu án phí và được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 266, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
- Áp dụng Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng Điều 91 Văn bản hợp nhất Luật Các tổ chức tín dụng số 07/VBHN-VPQH, ngày 12 tháng 12 năm 2017 của Văn phòng Quốc hội;
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại cổ phần P (O), buộc ông Ngô Phúc L và bà L1 Nguyễn Cẩm V phải liên đới trả cho OCB số tiền vay gốc và lãi tính đến ngày xét xử là 137.502.425 đồng (một trăm ba mươi bảy triệu năm trăm lẻ hai nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó, tiền gốc là 45.487.234 đồng, tiền lãi trong hạn là 19.815.003 đồng; lãi quá hạn là 72.200.188 đồng.
Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (23/12/2025) trở đi, hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho OCB số tiền lãi theo Hợp đồng số BCL0200136012 ngày 03/5/2018.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm và xử lý tiền tạm ứng án phí:
Buộc ông Ngô Phúc L và bà Lý Nguyễn Cẩm V phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 6.875.000 đồng (sáu triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Trả lại cho OCB toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.750.000 đồng (bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số
7
0015741 ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị và thi hành án
Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/12/2025); bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thành Minh |
Bản án số 284/2025/DS-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 284/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Đông (OCB), buộc ông Ngô Phúc Lành và bà Lý Nguyễn Cẩm Vân phải liên đới trả cho OCB số tiền vay gốc và lãi tính đến ngày xét xử là 137.502.425 đồng (một trăm ba mươi bảy triệu năm trăm lẻ hai nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó, tiền gốc là 45.487.234 đồng, tiền lãi trong hạn là 19.815.003 đồng; lãi quá hạn là 72.200.188 đồng.
