Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 284/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18 – 12–2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Ngọc Anh, ông Đoàn Trí Thiện.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 145/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 46/2025/QÐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Đỗ Kiều P, sinh năm 1998. Căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: Ấp B, xã U, tỉnh Cà Mau. Địa chỉ liên lạc: Nhà trọ Vũ Quốc S, tổ I, khu phố A, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh (yêu cầu vắng mặt).
  • Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 2000. Căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: ấp P, xã P, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai ngày 04/11/2025, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Kiều P trình bày:

Năm 2023, chị với anh Nguyễn Hữu T có tìm hiểu tình cảm, được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2023 ngày 03/01/2023). Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cự cãi, anh T chỉ lo ăn chơi, không còn quan tâm lẫn nhau. Ly thân khi chị vừa mang thai con được 01 tháng hơn, chị ra ngoài mướn trọ ở riêng đến nay. Do tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hữu N sinh ngày 04/01/2024, chị P trực tiếp nuôi dưỡng từ khi sinh ra đến nay, yêu cầu tiếp tục nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng.

Tài sản chung: không có. Nợ chung (phải thu, phải trả) không có.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu T: Tòa án đã triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử, nhưng đều vắng mặt không có lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.

Tòa án tiến hành xác minh được bà Đỗ Thị D (mẹ ruột anh T) xác định hiện nay vợ chồng chị P, anh T đã ly thân, không còn sống chung từ khoảng năm 2023 đến nay, thời điểm đó P đang mang thai cháu N. Sau khi lập gia đình thì vợ chồng P-T cùng chung sống và làm việc tại Bình Dương, khi vợ chồng xảy ra cự cãi P có gọi cho bà biết, bà có khuyên ngăn nhưng không được, P ra ngoài ở riêng và chăm sóc con từ đó đến nay. Con chung tên Nguyễn Hữu N sinh ngày 04/01/2024 do P trực tiếp nuôi dưỡng đến nay. Việc P yêu cầu ly hôn với T thì bà không có ý kiến, bà đồng ý nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa gửi cho T và sẽ cho T biết.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12

Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cho thấy bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Kiều P được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T. Về con chung, giao chị P được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Hữu N sinh ngày 04/01/2024 đến thành niên và tự lập được, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét. Chị P phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị P, anh T.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu ly hôn: Chị Đỗ Kiều P và anh Nguyễn Hữu T là vợ chồng có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống không hạnh phúc do anh T không lo làm ăn, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cự cãi, anh T và chị P đã không còn chung sống từ năm 2023 đến nay. Tòa án đã triệu tập anh T để tham gia hòa giải, xét xử nhưng anh không đến, chị P cương quyết ly hôn, do đó chấp nhận cho chị P được ly hôn với anh T là phù hợp với Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hữu N sinh ngày 04/01/2024, do chị P trực tiếp nuôi dưỡng và có yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng. Để đảm bảo môi trường phát triển của con được ổn định, thuận lợi trong việc học tập, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, tiếp tục giao con chung cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên và lao động được. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung (phải thu, phải trả): Ghi nhận chị P xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị P phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng. Anh T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Kiều P.

  1. Về hôn nhân: Chị Đỗ Kiều P được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
  2. Về con chung: Giao chị Đỗ Kiều P trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Hữu N, sinh ngày 04/01/2024 đến khi thành niên và tự lập được (hiện nay con chung đang do chị P nuôi dưỡng). Anh Nguyễn Hữu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị P cùng các thành viên gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chi P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.

Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung (phải thu, phải trả): Không có.
  2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Đỗ Kiều P phải chịu án phí 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003916 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Anh Nguyễn Hữu T không phải chịu án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Hội thẩm nhân dânThẩm phán – Chủ toạ phiên toà
Đoàn Trí Thiện Trần Ngọc ANguyễn Thị N1
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 284/2025/HNGĐ-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 284/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Đỗ Kiều P được ly hôn, tiếp tục nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger