TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 284/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11-8-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn, con chung” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa: Bà Phan Thị Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1299/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1991.
Địa chỉ: E, tổ D, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1989.
Địa chỉ: 5, khu phố A, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Phạm Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn Đ tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận kết hôn số 87/2015 ngày 01/10/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau này thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Bên cạnh đó quan điểm sống của hai vợ chồng bất đồng, vì vậy thường xuyên cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau, hiện cả hai đã sống ly thân. Nay bà xác định không còn tình cảm nên xin được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thiên B, sinh ngày 06/4/2016. Ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên tại bản tự khai ngày 04 tháng 8 năm 2023 ông Đ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý với phần trình bày của bà L về quan hệ hôn nhân. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên ông đồng ý ly hôn với bà L.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thiên B, sinh ngày 06/4/2016. Ly hôn, ông đồng ý giao con chung cho bà L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị Lưu . Bà Phạm Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ; Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thiên B, sinh ngày 06/4/2016 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không có; Về án phí: Bà L phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ hiện cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo qui định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Văn Đ xây dựng gia đình với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Quảng Ngãi trên cơ sở cả hai tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để các bên có thể đoàn tụ, tuy nhiên tại bản tự khai ngày 04/8/2023 ông Đ cũng thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, hiện cả hai đã sống ly thân từ lâu. Nay ông nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên đồng ý ly hôn với bà L để trả tự do cho nhau.
Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông Đ là có thật, được cả hai thừa nhận, đã xảy ra trong khoảng thời gian dài, hiện cả hai không thể tìm được tiếng nói chung, đã sống ly thân nên có tạo điều kiện về thời gian cho cả hai hàn gắn, đoàn tụ cũng không đạt kết quả.
Do vậy, căn cứ theo qui định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L, giải quyết cho bà L được ly hôn với ông Đ.
[4] Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thiên B, sinh ngày 06/4/2016. Ly hôn, bà L đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Ông Đ cũng đồng ý với đề nghị của bà L, đồng ý giao con chung cho bà L, không cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án án ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bên.
[5] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị Lưu .
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thiên B, sinh ngày 06/4/2016 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Đ được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí HNGĐ-ST: Bà Phạm Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khẩu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0007792 ngày 22/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa. Bà L đã nộp xong án phí.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thúy |
Bản án số 284/2023/HNGĐ-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 284/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu - Đạt
