TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 284/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 5 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Quang.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lê Cao Trí.
Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang không tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 647/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 222/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; cư trú tại: tổ 18, ấp Ấp BT, xã BC, huyện CP, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: bà Trần Thị L, sinh năm 1985; cư trú tại: tổ 18, ấp Ấp BT, xã BC, huyện CP, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 30/10/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: ông T và bà L chung sống với nhau vào năm 2004 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã BC vào ngày 04 thàng 7 năm 2005. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên thường xảy ra tranh cãi làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình. Ngoài ra, còn do bà L có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác ở bên ngoài. Ông T, bà L và gia đình hai bên đã nhiều lần hàn gắn nhưng mẫu thuẫn vẫn diễn ra và ngày càng trậm tròng. Ông và bà L đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2014 đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông T yêu cầu ly hôn với bà L.
- Về con chung: ông T và bà L có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 19/3/2005; Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 15/01/2008 và Nguyễn Văn Trọng T, sinh ngày 04/01/2012. Hiện con chung tên Nguyễn Thị Kim N và Nguyễn Văn Trọng T đang sống với ông T. Khi ly hôn ông T yêu cầu được nuôi dưỡng 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Kim N và Nguyễn Văn Trọng T, không yêu cầu bà L cấp dưỡng cho con. Đối với con chung tên Nguyễn Thị Kim C nay đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: không có.
- Về nợ chung: không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác nhưng bị đơn bà Trần Thị L vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt ông T có ý kiến vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn T, cho ông Nguyễn Văn T ly hôn với bà Trần Thị L.
Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 15/01/2008 và Nguyễn Văn Trọng T, sinh ngày 04/01/2012 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con chung tên Nguyễn Thị Kim C nay đã thành niên và có khả năng lao động nên không đề nghị xem xét.
Về cấp dưỡng: do ông T không yêu cầu bà L cấp dưỡng cho con chung nên không đề nghị xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không đề nghị xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý giải quyết là đúng với quy định pháp luật.
[1.2] Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bị đơn bà Trần Thị L xác lập hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã BC theo giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 25/7/2005. Do đó, hôn nhân giữa ông T và bà L là hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 9, Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Ông T yêu cầu được ly hôn với bà L, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên thường xảy ra tranh cãi làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành nên đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2014.
[2.2] Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và phải có nghĩa vụ chung sống với nhau. Tuy nhiên, ông T và bà L đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình nên làm cho hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để ông bà đoàn tụ nhưng bà L vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến. Qua đó, cho thấy bà L không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của ông T là có cơ sở nên chấp nhận.
[2.3] Về con chung: ông T và bà L có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 19/3/2005; Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 15/01/2008 và Nguyễn Văn Trọng T, sinh ngày 04/01/2012. Khi ly hôn ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Kim N và Nguyễn Văn Trọng T, bà L không có ý kiến. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay 02 (hai) con chung do ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Hơn nữa, các con chung đều có nguyện vọng được sống với ông T. Do đó, để ổn định về tâm lý cũng như ổn định về môi trường sống, điều kiện học tập, nơi ở và đảm bảo sự phát triển bình thường của các con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Kim N và Nguyễn Văn Trọng T cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con chung tên Nguyễn Thị Kim C nay đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét.
[2.4] Về cấp dưỡng: do ông T không yêu cầu bà L cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về tài sản chung và nợ chung: ông T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
[3] Về án phí dân sự: ông T phải chịu 300.000đ án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà L không phải chịu án phí sơ thẩm.
[4] Xét các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9; Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Trần Thị L.
2. Về con chung: ông Nguyễn Văn T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 15/01/2008 và Nguyễn Văn Trọng T, sinh ngày 04/01/2012. Đối với con chung tên Nguyễn Thị Kim C nay đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét.
+ Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình của mình, không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
+ Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng: ông Nguyễn Văn T không yêu cầu bà Trần Thị L cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí dân sự: ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005174 ngày 13 tháng 2 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
6. Về quyền kháng cáo: ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Quang |
Bản án số 284/2024/HNGĐ-ST ngày 11/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 284/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và yêu cầu được nuôi dưỡng con chung
