TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 284/2024/DS-PT
Ngày 06-6-2024
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền. |
| Các Thẩm phán: | Ông Lê Sỹ Trứ. |
| Bà Ngô Thị Bích Diệp. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lợi – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 157/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 189/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 267/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Anh T, sinh năm 1953, địa chỉ: số A lô A, cư xá T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Ngô Minh N, sinh năm 1964; địa chỉ: C G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 24/02/2024); có mặt.
- Ông Nguyễn Văn N1, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 04/11/2023); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty cổ phần Đ; địa chỉ trụ sở: số A ấp H, xã G, huyện T, Đồng Nai; địa chỉ văn phòng: tầng G, tòa nhà A G, số D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Dương Kim C, sinh năm 1995; đại chỉ: tầng 2, tòa nhà A G, số D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 24/5/2024); có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty cổ phần Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/10/2023, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Ngô Minh N trình bày:
Ngày 18/6/2021, bà Nguyễn Thị Anh T ký Văn bản thỏa thuận đặt cọc số B2-08.05/TTĐC-LDGSKY/2021 với Công ty cổ phần Đ (gọi tắt Công ty Đ) và Phụ lục số 01, nhằm đảm bảo ký kết hợp đồng mua bán cho căn hộ B2-08.05 (căn hộ S, thuộc khối B, tầng số 08), thuộc Dự án khu C, tại lô C, khu đô thị M, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, diện tích sàn xây dựng tạm tính 75,8m², diện tích sử dụng tạm tính (thông thủy) 69,7m² với số tiền 2.740.492.000 (hai tỷ bảy trăm bốn mươi triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn) đồng. Bà T đã thanh toán 20% giá trị căn hộ là 548.098.400 (năm trăm bốn mươi tám triệu không trăm chín mươi tám nghìn bốn trăm) đồng theo quy định tại Điều 2 của Thỏa thuận đặt cọc. Theo quy định tại Điều 4 của thỏa thuận đặt cọc thì ngày 30/3/2022, sau khi khách hàng đã thanh toán đủ số tiền đặt cọc thì hai bên sẽ ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ, thời gian ký kết hợp đồng có thể sớm hoặc muộn hơn không quá 03 (ba) tháng so với thời hạn dự kiến ký kết.
Ngày 27/6/2022, với lý do gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng dịch Covid 19, Công ty Đ gửi thư cáo lỗi, thông báo dời thời gian ký kết Hợp đồng mua bán chậm nhất là ngày 30/9/2022 nhưng không thực hiện. Tháng 10/2022, bà T ủy quyền cho bà Võ Thị Kim N2 đến Công ty làm việc để chấm dứt thỏa thuận và đề nghị thanh lý thỏa thuận đặt cọc. Tuy nhiên, qua các buổi làm việc liên quan đến thanh lý thỏa thuận đặt cọc, Công ty Đ vẫn không có thiện chí giải quyết các yêu cầu của bà T và đến ngày 31/12/2022 Công ty vẫn không tổ chức ký Hợp đồng mua bán theo như thông báo số 154/2022/TB-LDG-LDGSKY ngày 27/6/2022. Tiếp tục ngày 04/10/2023, Công ty G thông báo lại thời gian dự kiến ký kết Hợp đồng mua bán đối với căn hộ bà T mua là ngày 31/3/2024 (+/- 3 tháng). Nhận thấy, quyền và nghĩa vụ của mình bị xâm phạm nên bà T khởi kiện tại yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy Thỏa thuận đặt cọc số B2-08.05/TTĐC-LDGSKY/2021 ngày 18/6/2021 giữa bà Nguyễn Thị Anh T và Công ty cổ phần Đ.
- Buộc Công ty cổ phần Đ trả lại cho bà T toàn bộ số tiền cọc mà bà T đã thanh toán cho công ty Đ là 548.098.400 đồng.
3/ Buộc Công ty cổ phần Đ trả cho bà T số tiền lãi do vi phạm thời hạn ký kết hợp đồng mua bán căn hộ tạm tính từ ngày 01/7/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 13/3/2024 là 68.083.441 đồng (622 ngày x 0,02%/ngày x 548.098.400 đồng).
Tổng cộng số tiền mà bà T yêu cầu Công ty Cổ phần Đ phải trả là: 616.281.841 đồng (sáu trăm mười sáu triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn tám trăm bốn mươi mốt đồng).
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Yêu cầu chấm dứt thỏa thuận đặt cọc ký ngày 18/6/2021 giữa nguyên đơn với bị đơn. Đối với yêu cầu của bị đơn về việc nguyên đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn tiền phạt do vi phạm thời gian thanh toán với số tiền 3.453.021 đồng, nguyên đơn đồng ý thanh toán cho bị đơn.
2. Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty cổ phần Đ trình bày:
Thống nhất về việc ký kết thỏa thuận đặt cọc, nội dung đặt cọc, số tiền đặt cọc như nguyên đơn trình bày.
Trong khoảng thời gian sau khi hai bên ký thỏa thuận đặt cọc, dịch bệnh Covid-19 bùng phát nhiên lần và kéo dài đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ xây dựng dự án C1 Công ty Đ đã cố gắng huy động vừa qua nhưng khó khăn đó để đảm bảo tiến độ ký kết hợp đồng mua bán với Khách hàng. Đến thời điểm hiện nay, Công ty đã được Sở Xây dựng tỉnh B cấp Giấy phép xây dựng số 668/GPXD ngày 01/03/2022 và dự kiến đến ngày 31/12/2023, dự án sẽ đáp ứng các điều kiện để ký kết hợp đồng mua bán căn hộ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thỏa thuận đặt cọc bà T đã vi phạm về nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể: lần thanh toán thứ 02 trễ 145 ngày; tiền phạt vi phạm: 1.986.857 đồng (một triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn tám trăm năm mươi bảy đồng); lần thanh toán thứ 03 trễ hạn 84 ngày; tiền phạt vi phạm: 1.151.007 đồng (một triệu một trăm năm mươi mốt nghìn không trăm lẻ bảy đồng); lần thứ 04 trễ 23 ngày; tiền phạt vi phạm: 315.157 đồng (ba trăm mười lăm nghìn một trăm năm mươi bảy đồng), tổng số tiền phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bà T là 3.453.021 đồng. Như vậy, bà T đã có sự vi phạm nghiêm trọng về phạt sinh lãi chậm thanh toán với số tiền 3.453.021 đồng, cho đến hiện tại nguyên đơn vẫn chưa thanh toán số tiền lãi trên.
Từ những phân tích trên, tại phiên tòa Công ty Đ đồng ý chấm dứt Thỏa thuận đặt cọc số B2-08.05/TTĐC-LDGSKY/2021 ký ngày 18/6/2021 giữa công ty với bà T. Công ty đồng ý hoàn trả lại cho bà T số tiền cọc là 548.098.400 đồng. Đối với khoản tiền lãi nguyên đơn yêu cầu, bị đơn không đồng ý vì lỗi là do bất khả kháng (dịch Covid) chứ không phải do lỗi của bị đơn.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc chấm dứt Hợp đồng đặt cọc (Thỏa thuận đặt cọc) giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh T với bị đơn Công ty cổ phần Đ, cụ thể:
Chấm dứt Thỏa thuận đặt cọc số B2-08.05/TTĐC-LDGSKY/2021, Phụ lục 01 và Phụ lục 02 ký ngày 18/6/2021 giữa Công ty cổ phần Đ với bà Nguyễn Thị Anh T;
- Công ty cổ phần Đ có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Anh T số tiền đặt cọc là 548.098.400đ (năm trăm bốn mươi tám triệu không trăm chín mươi tám nghìn bốn trăm đồng).
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty Cổ phần Đ thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi do vi phạm thời hạn ký kết hợp đồng mua bán căn hộ:
Buộc Công ty cổ phần Đ phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Anh T số tiền lãi là 68.183.441 đồng (sáu mươi tám triệu một trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi mốt đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Anh T về việc thanh toán cho bị đơn Công ty cổ phần Đ số tiền phạt do chậm thanh toán là 3.453.021 đồng (ba triệu bốn trăm năm mươi ba nghìn không trăm hai mươi mốt đồng).
Kể từ ngày, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 26/3/2024 bị đơn Công ty cổ phần Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại toàn bộ vụ án nêu trên theo đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đại diện bị đơn Công ty cổ phần Đ đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm về tiền lãi, bị đơn không đồng ý trả toàn bộ số tiền lãi mà nguyên đơn yêu cầu. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn do ông Nguyễn Văn N1 đại diện có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự có tên trên.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa các đương sự đều thống nhất những nội dung sau: nội dung của Thỏa thuận đặt cọc số B2-08.05/TTĐC-LDGSKY/2021, Phụ lục 01 và Phụ lục 02 ký ngày 18/6/2021 giữa bà T với Công ty Đ; số tiền bà T đã đặt cọc cho Công ty 548.098.400 đồng và số tiền phạt do nguyên đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 3.453.021 đồng. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu chấm dứt thỏa thuận đặt cọc ký ngày 18/6/2021 giữa nguyên đơn với bị đơn. Đối với yêu cầu của bị đơn về việc nguyên đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn tiền phạt do vi phạm thời gian thanh toán với số tiền 3.453.021 đồng, nguyên đơn đồng ý thanh toán cho bị đơn.
[2.3] Xét Thỏa thuận đặt cọc số B2-08.05/TTĐC-LDGSKY/2022, Phụ lục 01 và Phụ lục 02 ký ngày 18/6/2021 giữa bà T với Công ty Đ nhằm đảm bảo cho việc xác lập và ký kết hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai đối với căn hộ số 05, thuộc khối B, tầng số 08 thuộc Dự án khu chung cư lô C (dự án khu C), khu đô thị M, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tại điểm b khoản 6.2 Điều 6 của thỏa thuận: “...bên B không phải là bên tham gia góp vốn, hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên kết với bên A”. Căn cứ Văn bản số 279/QLN –BĐS ngày 21/10/2016 của Cục Q thuộc Bộ X xác định “Nếu mục đích đặt cọc chỉ là để đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng mua bán nhà ở sẽ được ký kết, chủ đầu tư không sử dụng tiền đặt cọc vào mục đích huy động vốn để thực hiện dự án xây dựng nhà ở thì đặt cọc trong trường hợp này không phải là hình thức huy động vốn”. Khi ký thỏa thuận đặt cọc các bên xác định rõ đây là việc đặt cọc để đảm bảo cho việc ký kết hợp đồng mua bán căn hộ hình thành trong tương lai, không thuộc trường hợp vi phạm hình thức huy động vốn theo quy định tại Điều 68 Luật Nhà ở và Điều 19 của Nghị định 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ nên đây là giao dịch đặt cọc. Hợp đồng đặt cọc được lập thành văn bản, có những thỏa thuận cụ thể về đối tượng được đảm bảo, về số tiền đặt cọc, thời gian ký hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai và trách nhiệm của các bên. Việc ký hợp đồng đặt cọc là hoàn toàn tự nguyện, đúng ý chí của các bên, không bị ép buộc, lừa dối. Mục đích và nội dung của thỏa thuận đặt cọc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên đương sự có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, thẩm quyền. Căn cứ vào Điều 117 và Điều 328 của Bộ luật Dân sự thì thỏa thuận đặt cọc số số B2-08.05/TTĐC-LDGSKY/2021 và Phụ lục 01 ngày 18/6/2021 giữa bà T với Công ty Đ phát sinh hiệu lực đối với các bên.
Thực hiện theo thỏa thuận bà T đã giao cho Công ty Đ số tiền đặt cọc là 548.098.400 đồng (năm trăm bốn mươi tám triệu không trăm chín mươi tám nghìn bốn trăm đồng). Về quyền và nghĩa vụ của Công ty Đ được quy định tại mục 6.2.b Điều 6 của Thỏa thuận, cụ thể bên A “có nghĩa vụ đảm bảo các điều kiện cần thiết theo quy định pháp để ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ với bên B”. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại Công ty Đ không thực hiện nghĩa vụ như thỏa thuận do Công ty Đ vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh theo quy định tại Điều 55 Luật Kinh doanh bất động sản. Ngày 01/3/2023 Sở Xây dựng mới cấp Giấy phép xây dựng số 668/GPXD cho Công ty Đ và chưa có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà.
Ngoài ra, công ty còn cam kết với nguyên đơn thời hạn để ký hợp đồng mua bán căn hộ theo Công văn số 154/2022/TB-LDG-LDGSKY (v/v: Thời gian dự kiến ký kết hợp đồng mua bán căn hộ của Dự án LDG SKY ngày 27/06/2022): “...thời gian thực hiện ký kết Hợp đồng Mua Bán dự kiến sẽ chậm nhất vào ngày 30/9/2022 (biên độ ± 03 tháng...) (bút lục 18, 19), tuy nhiên đến nay công ty Đ không cung cấp được hồ sơ pháp lý của chung cư lô C1 về việc Công ty Đ đủ điều kiện để ký kết hợp đồng mua bán căn hộ, không cung cấp bất cứ chứng cứ chứng minh có sự kiện bất khả kháng là vi phạm nghĩa vụ của bên nhận cọc. Theo Công văn số 3290/SXD-TTrXD ngày 13/9/2023 của Sở Xây dựng tỉnh B cung cấp thông tin: công ty Đ đã nộp hồ sơ trực tuyến đề nghị xác nhận đủ điều kiện huy động vốn nhưng đã rút hồ sơ đến thời điểm hiện nay dự án khu chung cư lô C1 chưa được Sở Xây dựng thông báo đủ điều kiện huy động vốn theo hình thức bán nhà ở hình thành trong tương lai. Tại biên bản xác minh ngày 10/01/2024 thì công trình chung cư lô C1 hiện đang ngưng hoạt động. Điều này phù hợp với lời trình bày của đại diện bị đơn tại phiên tòa, từ khi được cấp giấy phép xây dựng, công trình ngưng thi công đến nay. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận về nghĩa vụ (ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ) do Công ty không đủ điều kiện ký kết hợp đồng mua bán căn hộ. Theo quy định tại Điều 428 Bộ luật Dân sự “ Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.” Tại phiên tòa, đại diện bị đơn cũng đồng ý chấm dứt thỏa thuận đặt cọc giữa nguyên đơn với bị đơn và đồng ý thanh toán lại cho nguyên đơn toàn bộ số tiền đặt cọc đã nhận là 548.098.400 đồng. Xét, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự nên Hội đồng xét xử sẽ Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc Chấm dứt Hợp đồng đặt cọc (thỏa thuận đặt cọc), Phụ lục số 01, Phụ lục số 02 ký ngày 18/6/2021 giữa nguyên đơn với bị đơn.
[2.4] Đối với yêu cầu tính lãi do chậm hoàn trả lại tiền cọc của nguyên đơn: Bị đơn cho rằng, bị đơn không có lỗi trong việc chậm ký kết hợp đồng mua bán căn hộ, việc chậm trễ này là do dịch bệnh C1 – là trường hợp bất khả kháng, nên không đồng ý thanh toán tiền lãi theo yêu cầu của nguyên đơn. Xét, như đã phân tích tại mục [5] lỗi dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng là do Công ty Đ không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận tại Điều 6 của thỏa thuận đặt cọc “đảm bảo các điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật để ký kết hợp đồng mua bán căn hộ với bên B”. Do đó, việc không ký kết được hợp đồng mua bán căn hộ hoàn toàn do lỗi của bên A. Theo quy định tại điểm 5.3 của thỏa thuận đặt cọc: “trường hợp hợp đồng mua bán căn hộ không được ký kết hoàn toàn do lỗi của bên A thì bên A có trách nhiệm trả cho bên B số tiền đã thanh toán và khoản tiền tương đương với mức lãi suất 0,02%/ngày/số tiền bên B đã thanh toán cho bên A”. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi là 68.183.441 đồng tính từ ngày 01/07/2022 đến ngày xet xử sơ thẩm 13/3/2024 và mức lãi suất 0,02%/ngày (622 ngày x 0,02%/ngày x 548.098.400 đồng) là có căn cứ chấp nhận.
[2.5] Về tiền vi phạm nghĩa vụ do chậm thanh toán: Quá trình thanh toán tiền cọc, nguyên đơn thanh toán trễ cho các đợt 2, 3, 4 tổng cộng 252 ngày tương đương số tiền phạt nghĩa vụ thanh toán 3.453.021 đồng. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý thanh toán cho bị đơn số tiền phạt do chậm thanh toán là 3.453.021 đồng, đây là ý chí tự nguyện của đương sự, không trái quy định của pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận là phù hợp.
Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần Đ.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần Đ.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Công ty cổ phần Đ phải chịu số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002699 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 284/2024/DS-PT ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 284/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
