|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 284/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 6 - 2025. V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đăng và ông Võ Duy Bảo.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên chính, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 199/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị H, sinh ngày 02/10/1996.
Nơi cư trú: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Võ Ngọc T, sinh ngày 10/12/1991.
Nơi đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn, chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị Nguyễn Thị H và anh Võ Ngọc T tự nguyện kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 48 quyển số 1/2015 đăng ký ngày 22/7/2015. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc và sinh được hai người con. Vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên chị H, anh T bàn bạc, năm 2017 anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu anh T ra nước ngoài làm việc, tình cảm vợ chồng vẫn động viên thăm hỏi nhau. Đến đầu năm 2023 chị H, anh T phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do trái ngược nhau về quan điểm sống, nuôi dạy con cái, khoảng cách địa lý, vợ chồng sống xa nhau nhưng thiếu tin tưởng lẫn nhau. Chị H và anh T đã dành cho nhau những thời gian suy nghĩ để hàn gắn tình cảm, nhưng đến giữa năm 2023 thì cắt đứt liên lạc, không còn quan tâm đến nhau nữa. Hiện nay, tình trạng hôn nhân của chị H và anh T ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Ngọc T.
Về con chung: chị H, anh T có 02 con chung Võ Nguyễn Anh Q, sinh ngày 26/01/2016 và cháu Võ Nguyễn Anh K, sinh ngày 22/10/2019. Hiện nay các cháu đang sống cùng với chị H tại nhà bà ngoại, tại xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung.
Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi các con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho thân nhân của bị đơn và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng anh T đều không có ý kiến và đều vắng mặt không có lý do.
Chị Nguyễn Thị H không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú, nơi làm việc hiện nay của anh Võ Ngọc T. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu bà Trương Thị D (là mẹ đẻ của Võ Ngọc T, cư trú tại thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn (anh Võ Ngọc T); yêu cầu bà D thông báo cho anh T biết chị H đang khởi kiện ly hôn anh Võ Ngọc T và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết; đề nghị anh T gửi lời khai, yêu cầu cho Tòa án. Bà D cho biết anh T đang làm việc ở nước ngoài, vẫn liên lạc với gia đình; anh T đã biết chị H đang khởi kiện ly hôn anh T và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết. Nhưng do anh T không có địa chỉ ổn định để cung cấp cho Tòa án; anh T đồng ý ly hôn chị H và đồng ý giao 02 con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng.
Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh Võ Ngọc T liên quan đến giải quyết vụ án trên cũng như không ai cung cấp thông tin về nơi cư trú, làm việc hiện tại của anh Võ Ngọc T.
Nguyện vọng của cháu Võ Nguyễn Anh Q: cháu là con của mẹ Nguyễn Thị H và bố Võ Ngọc T. Từ khi bố đi nước ngoài đến nay, cháu ở cùng mẹ, bố mẹ ly hôn, cháu có mong muốn được ở với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Võ Ngọc T; giao con chung Võ Nguyễn Anh Q, sinh ngày 26/01/2016 và cháu Võ Nguyễn Anh K, sinh ngày 22/10/2019 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: do chị H chưa yêu cầu, nên không xem xét.
- - Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng.
[1.1] Về thẩm quyền: Bị đơn, anh Võ Ngọc T có địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Anh T1 hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, nên vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về thủ tục hòa giải: căn cứ khoản 1, 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì hiện nay anh Võ Ngọc T vắng mặt tại nơi cư trú và đang ở nước ngoài.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn, chị Nguyễn Thị H đã trực tiếp đến Tòa án để làm việc, được tiếp cận công khai chứng cứ và trình bày ý kiến của mình, nhưng không thể tham gia phiên tòa, nên đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn, anh Võ Ngọc T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo Công văn số 1112/PA08-Đ1 ngày 28/3/2025 của Phòng Q1 - Công an tỉnh N thì anh Võ Ngọc T xuất cảnh ngày 14/2/2019 qua Cửa khẩu sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Chị Nguyễn Thị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu bà Trương Thị D (mẹ đẻ của anh Võ Ngọc T) cung cấp địa chỉ, tin tức của anh T và thông báo cho anh T biết Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án dân sự về "Tranh chấp hôn nhân và gia đình" theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, đề nghị anh T gửi lời khai cho Tòa án. Tuy nhiên, bà D không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh Võ Ngọc T, nhưng đã thông tin và anh T đã biết rõ việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án mà anh T là bị đơn và anh T không có ý kiến gì.
Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng tại Nhà văn hóa xóm A và tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An là nơi cư trú cuối cùng của anh Võ Ngọc T trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Việc anh T không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án thể hiện anh Võ Ngọc T cố tình dấu địa chỉ.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 48, quyển số 01/2015 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Võ Ngọc T là hợp pháp. Vì điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2017 anh Võ Ngọc T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, thời gian đầu ra nước ngoài chị H, anh T thường xuyên gọi điện hỏi thăm, động viên nhau. Đến đầu năm 2023 chị H và anh T phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn
do trái ngược nhau về quan điểm sống, nuôi dạy con cái, khoảng cách địa lý, vợ chồng sống xa nhau nhưng thiếu tin tưởng lẫn nhau. Chị H và anh T đã dành cho nhau những thời gian suy nghĩ để hàn gắn tình cảm, nhưng đến giữa năm 2023 thì chị H và anh T không còn liên lạc với nhau, không còn quan tâm đến nhau cả về vật chất lẫn tinh thần.
Xét thấy: tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Võ Ngọc T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Võ Ngọc T là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Võ Ngọc T có 02 con chung là Võ Nguyễn Anh Q, sinh ngày 26/01/2016 và Võ Nguyễn Anh K, sinh ngày 22/10/2019.
Xét thấy, hiện nay các con chung của chị H và anh T đang do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh T đi nước ngoài nên cần chấp nhận nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung của nguyên đơn, phù hợp với nguyện vọng của các cháu.
Về cấp dưỡng: Không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con, do chị H không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở. Anh Võ Ngọc T có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị H không yêu cầu và anh Võ Ngọc T cũng chưa có ý kiến, nên miễn xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; Điều 37, Điều 38, Điều 3,9 Điều 147; khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 2 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Võ Ngọc T.
- Về con chung:
- Giao con chung Võ Nguyễn Anh Q, sinh ngày 26/01/2016 và Võ Nguyễn Anh K, sinh ngày 22/10/2019 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0007619 ngày 25/3/2025.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Anh Võ Ngọc T đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thúy Quỳnh |
Bản án số 284/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 284/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
