Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 284/2024/HC-PT

Ngày: 15 - 4 - 2024

V/v khiếu kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết

Ông Hoàng Minh Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 544/2023/TLPT-HC ngày 09 tháng 8 năm 2023 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 42/2023/HC-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo.

  1. Người khởi kiện: Ông Dương Trung B, sinh năm 1954; Địa chỉ: thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông Dương Trung B: (theo giấy ủy quyền ngày 09/11/2023).

    • Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978; địa chỉ: số B đường H, khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (có mặt)
    • Bà Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 1965; nơi cư trú: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (có mặt)
  3. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận
  4. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trung T2, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T: Ông Bùi Đắc Đ, Phó Trưởng phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện T (có mặt)

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận
    • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành T3, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B (có văn bản xin xét xử vắng mặt)

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Ủy ban nhân dân xã B: Ông Nguyễn Văn P - Công chức địa chính xã B (có mặt)

    • Bà Lê Thị C, sinh năm 1957; Địa chỉ: thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)
    • Người đại diện theo ủy quyền của bà C: (theo giấy ủy quyền ngày 09/11/2023).

      • Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978; địa chỉ: số B đường H, khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (có mặt)
      • Bà Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 1965; nơi cư trú: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (có mặt)
    • Ông Bùi Ngọc B1, sinh năm 1970; Địa chỉ: khu phố F, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)
  6. Người có kháng cáo: Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:

Trước giải phóng, cha mẹ ông Dương Trung B là ông Dương Đ1 và bà Nguyễn Thị M có khai hoang hơn 8.000m² đất tọa lạc tại H, thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Sau khi khai hoang đất, gia đình ông B đã dành 01 phần đất chôn cất 22 người thân trong dòng tộc qua đời (hình ảnh các ngôi mộ kèm theo). Diện tích còn lại sử dụng đất vào mục đích làm rẫy, sản xuất nông nghiệp, trồng hòa màu, kết hợp làm chòi, trông nom, giữ đất, thuận tiện cho việc phục vụ nghề lưới chài tăng thu nhập của gia đình.

Năm 1984, ông Dương Đ1, bà Nguyễn Thị M cùng anh chị em ruột của ông B đã họp bàn thống nhất giao 8.000m² đất cho vợ chồng ông B quản lý sử dụng và định đoạt. Sau khi nhận đất, vợ chồng ông B trồng mãng cầu, đu đủ, nhãn...Tuy nhiên, do điều kiện thổ nhưỡng đất cát trắng bạc màu, nắng nóng khô hạn nên gia đình phải thường xuyên thay đổi luân phiên cây trồng. Vì vậy, đầu năm 2017 chuyển đổi sang trồng dừa và cây xoan chịu hạn. Để thuận tiện việc chăm sóc bảo vệ cây trồng, ông B làm một căn nhà chứa phân bón, đào 01 giếng phục vụ nước tưới cho sản xuất. Vì vậy, cây đất đã được chăm sóc và phát triển rất tốt.

Tuy nhiên, ngày 08/6/2021 UBND xã B đã tiến hành kiểm tra và lập Biên bản vi phạm hành chính số 13/BB-VPHC về hành vi chiếm 7.427,8m² đất tại H, thôn C, xã B đối với ông Dương Trung B. Ngày 15/10/2021, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 168/QĐ-UBND áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc ông Dương Trung B phải khôi phục tình trạng sử dụng đất trước khi vi phạm trả lại đất đồng thời nộp 10.010.562 đồng có được do vi phạm phạm hành chính.

Nhận thấy, Quyết định số 168/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện T trái pháp luật, không đúng nguồn gốc và quá trình sử dụng đất chưa căn cứ đầy đủ các cơ sở pháp lý và xác minh rõ nguồn gốc, quá trình sử dụng đất làm ảnh hưởng quyền lợi ích hợp pháp của gia đình ông B.

Nay ông Dương Trung B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: tuyên hủy Quyết định số 168/QĐ-KPHQ, ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Chủ tịch UBND huyện T về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc ông Dương Trung B khôi phục tình trạng sử dụng đất trước khi vi phạm, trả lại đất, đồng thời nộp 10.010.562 đồng có được do vi phạm hành chính.

*Người bị kiện Chủ tịch UBND huyện T trình bày:

Ngày 15/7/2020, Ủy ban nhân dân xã B, huyện T kiểm tra phát hiện ông Dương Trung B, địa chỉ thường trú thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận tự ý thuê nhân công phát ranh và trồng cây trên đất do Nhà nước quản lý tại khu vực Đ, thôn C, xã B, huyện T nên tiến hành các bước kiểm tra, xác minh việc sử dụng đất của ông Dương Trung B (theo Biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất lập ngày 15/7/2020 và ngày 05/6/2021; Biên bản làm việc lập ngày 15/7/2020; Biên bản xác minh tình tiết vụ việc vi phạm hành chính lập ngày 27/9/2021) và lập Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai đối với ông Dương Trung B (tại Biên bản vi phạm hành chính số 13/BB-VPHC do Công chức địa chính - xây dựng xã B lập ngày 08/6/2021) về hành vi chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn với diện tích 7.427,8 m² để trồng cây lâu năm tại khu V, thôn C, xã B theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Sau đó, UBND xã B có Tờ trình số 71/TTr-UBND ngày 27/9/2021 cùng toàn bộ hồ sơ gửi đến Ủy ban nhân huyện T để xử phạt theo thẩm quyền quy định.

Ngày 15/10/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Dương Trung B tại Quyết định số 168/QĐ-KPHQ, do hết thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Tại Quyết định nêu trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T buộc ông Dương Trung B khôi phục tình trạng sử dụng đất trước khi vi phạm, trả lại đất, đồng thời nộp 10.010.562 đồng có được do vi phạm hành chính.

Vị trí đất mà ông Dương Trung B tác động chiếm để trồng cây lâu năm và xây dựng nhà tạm trên diện tích 7.427,8 m² tại khu V, thôn C, xã B, huyện T là nằm trong phần diện tích 42.843 m² đất trồng cây lâu năm khác hiện do UBND xã B quản lý, được thể hiện tại thửa đất số 03, tờ bản đồ địa chính số 41 theo bản đồ đo đạc địa chính 920 của xã B vào năm 2007 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký nghiệm thu ngày 29/12/2011. Do đó, căn cứ theo mục đích sử dụng, hiện trạng chiếm đất để trồng cây lâu năm như: dừa, vú sữa, mận, mãn cầu và xây dựng nhà tạm nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T xác lập hành vi chiếm đất của ông B theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 14 và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ là phù họp theo quy định pháp của luật đất đai năm 2013 và Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Từ khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ban hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Dương Trung B, đến nay ông B chưa chấp hành nội dung của quyết định số 168/QĐ-KPHQ ngày 15/10/2021 và đang khiếu kiện quyết định hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. Qua kiểm tra hiện trạng sử dụng đất (ngày 01/11/2022) do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện chủ trì phối họp với UBND xã B, cùng sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị T (do ông Dương Trung B ủy quyền), trên toàn bộ diện tích khu đất 7.427,8 m² có xây dựng 01 căn nhà bằng tường gạch, mái tol thiếc, nền xi măng (diện tích 14 m²), 01 mái hiên tiền chế (diện tích 14 m²), 22 ngôi mộ xây nằm rải rác trong khu đất (đa số trên các ngôi mộ đều có ghi tên người chết, năm chết, năm lập mộ), 02 giếng nước bằng bi có đường kính 1,1 m; ngoài ra trên đất có trồng khoảng 133 cây dừa (cao từ lm - 2m), khoảng 113 cây xoan (cao khoảng 2m), 04 cây nhãn (cao trên 2,5m), 18 cây mãn cầu (cao trên 2,5 m), 01 cây me (cao gần 5m) và khoảng 50 bụi khoai mì (cao gần 1m); xung quanh khu đất cắm trụ bê tông có giăng lưới kẽm gai.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã B: thống nhất với văn bản số 3124/UBND-NC, ngày 22 tháng 11 năm 2022 của UBND huyện T.

* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 42/2023/HC-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của ông Dương Trung B.

Tuyên xử: Hủy Quyết định số 168/QĐ-KPHQ ngày 15/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí xem xét, thẩm định, chi phí giám định và quyền kháng cáo vụ án theo luật định

Ngày 07/6/2023 người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất cho thấy: việc UBND huyện T xử phạt buộc ông B phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và phải nộp khoản tiền hơn 10.000.000 đồng là không có căn cứ và không phù hợp.

Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B là có căn cứ. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập thể hiện:

[1] Quyết định số 168/QĐ-KPHQ ngày 15/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Dương Trung B có các nội dung thể hiện: ông Dương Trung B có hành vi chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn với diện tích 7.427,8 m² để trồng cây lâu năm tại khu V, thôn C, xã B theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và buộc ông Dương Trung B khôi phục tình trạng sử dụng đất trước khi vi phạm, trả lại đất, đồng thời nộp 10.010.562 đồng có được do vi phạm hành chính được cho là kể từ ngày 15/7/2020.

Trong khi đó, các chứng cứ đã thu thập về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của ông B cho thấy:

[1.1] Theo lời khai của những người sống lâu năm ở địa phương cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện, thửa đất có diện tích 7.427,8 m² tại khu V, thôn C, xã B, huyện T có nguồn gốc do cha mẹ ông Dương Trung B là ông Dương Đ1 và bà Nguyễn Thị M khai hoang từ trước năm 1975. Sau đó, gia đình ông B đã dành một phần đất chôn cất 22 người thân trong dòng tộc. Diện tích còn lại sử dụng vào mục đích làm rẫy, sản xuất nông nghiệp, trồng hoa màu, kết hợp làm chòi, trông nom, giữ đất. Năm 1984, ông Dương Đ1 và bà Nguyễn Thị M cùng anh chị em ruột của ông B thống nhất giao phần đất này cho vợ chồng ông B quản lý sử dụng.

[1.2] Theo Biên bản xem xét và thẩm định tại chỗ cũng như ý kiến trình bày của các đương sự thì trên khu đất diện tích 7.427,8 m² hiện do hộ ông B đang quản lý, có xây dựng 01 căn nhà bằng tường gạch, mái tol thiếc, nền xi măng (diện tích 14 m²), 01 mái hiên tiền chế (diện tích 14 m²); 22 ngôi mộ xây nằm rải rác trong khu đất (đa số trên các ngôi mộ đều có ghi tên người chết, năm chết, năm lập mộ); 02 giếng nước bằng bi có đường kính 1,1 m; ngoài ra trên đất có trồng khoảng 133 cây dừa (cao từ 1m - 2m), khoảng 113 cây xoan (cao khoảng 2m), 04 cây nhãn (cao trên 2,5m), 18 cây mãng cầu (cao trên 2,5 m), 01 cây me (cao gần 5m) và khoảng 50 bụi khoai mì (cao gần 1m); xung quanh khu đất cắm trụ bê tông có giăng lưới kẽm gai.

[1.3] Theo kết luận giám định tuổi cây trồng số 1063/SNN-TTBVTV ngày 17 tháng 4 năm 2023 của sở N thì trong số cây trồng trên đất có 01 cây me 29 năm tuổi; 04 cây nhãn một cây 32 tuổi và ba cây 11 tuổi; 06 cây mãng cầu, một cây 09 tuổi và năm cây 6 tuổi và 03 cây xoan 08 tuổi.

Như vậy, thửa đất có diện tích 7.427,8 m² tại khu V, thôn C, xã B, huyện T là do cha mẹ khai hoang, sau đó để lại cho vợ chồng ông B tiếp tục sử dụng mà không phải do ông B chiếm đất như trong Quyết định số 168/QĐ-KPHQ ngày 15/10/2021 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện T. Việc Ủy ban nhân dân huyện T cho rằng, ông B đã có hành vi lấn chiếm đất là không đủ căn cứ.

[2] Xét về các biện pháp khắc phục hậu quả: tại Quyết định nêu trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T buộc ông Dương Trung B khôi phục tình trạng sử dụng đất trước khi vi phạm, trả lại đất, đồng thời nộp 10.010.562 đồng có được do vi phạm hành chính, thấy rằng:

Qua xác minh, thu thập cho thấy: thửa đất có diện tích 7.427,8 m² có nguồn gốc do cha mẹ ông B khai phá, sử dụng sau đó giao lại cho ông B, hiện trên đất còn có nhiều mồ mả do các thế hệ của ông B đã chôn cất người thân của mình từ nhiều năm qua, có nhiều cây lâu năm trồng trên đất trong đó có cây đã được gia đình ông B trồng trên 30 năm... Bên cạnh đó, tại công văn số 154/UBND-PAKN ngày 10 tháng 9 năm 2019 của Ủy ban nhân dân xã B trả lời đơn của ông Dương Trung B liên quan đến việc ông B đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất có diện tích 7.427,8 m² nêu trên thể hiện: “Phần diện tích đất này gia đình ông Dương Trung B đang sử dụng vào mục đích nghĩa trang G... do đó gia đình ông B tạm thời sử dụng vào mục đích nghĩa trang gia đình, khi nào địa phương triển khai quy hoạch sẽ có thông báo tổ chức di dời mồ mả và tính toán đền bù mồ mả theo quy định” (văn bản trả lời này ban hành trước khi lập biên bản vi phạm).

Cho nên việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T buộc ông Dương Trung B khôi phục tình trạng sử dụng đất trước khi vi phạm, trả lại đất là không đúng.

[3] Tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về việc xác định số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định: “Trường hợp sử dụng đất do lấn, chiếm quy định tại Điều 14 của Nghị định này thì số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm được xác định bằng giá trị của phần diện tích đất lấn, chiếm trong thời gian vi phạm (kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất lấn, chiếm đến thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính), tính theo giá đất cụ thể bằng phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất đối với loại đất đang sử dụng sau khi lấn, chiếm tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính”.

Thửa đất có diện tích 7.427,8 m² tại khu V, thôn C, xã B, huyện T là do cha mẹ khai hoang trước năm 1975 sau đó để lại cho vợ chồng ông B tiếp tục sử dụng. Hiện trên đất có xây dựng 01 căn nhà tường gạch, mái tol thiếc, nền xi măng (diện tích 14 m²), 01 mái hiên tiền chế (diện tích 14 m²), 22 ngôi mộ xây nằm rãi rác trong khu đất (đa số trên các ngôi mộ đều có ghi tên người chết, năm chết, năm lập mộ), 02 giếng nước bằng bi có đường kính 1,1 m; ngoài ra trên đất có trồng khoảng 133 cây dừa (cao từ 1m - 2m), khoảng 113 cây xoan (cao khoảng 2m), 04 cây nhãn (cao trên 2,5m), 18 cây mãng cầu (cao trên 2,5 m), 01 cây me (cao gần 5m) và khoảng 50 bụi khoai mì (cao gần 1m); xung quanh khu đất cắm trụ bê tông có giăng lưới kẽm gai. Trong số cây trồng trên đất, theo kết luận giám định có 01 cây me 29 năm tuổi; 04 cây nhãn một cây 32 tuổi và ba cây 11 tuổi; 06 cây mãng cầu một cây 09 tuổi và 05 cây 6 tuổi và 03 cây xoan 08 tuổi.

Tuy nhiên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T lại chỉ xác định thời gian chiếm đất của ông B từ ngày 15 tháng 7 năm 2020 đến ngày 08 tháng 6 năm 2021 để trên cơ sở đó buộc ông Dương Trung B phải nộp 10.010.562 đồng có được do vi phạm hành chính là không có cơ sở.

[4] Từ những nhận định trên, có đủ căn cứ khẳng định thửa đất có diện tích 7.427,8 m² tại khu V, thôn C, xã B, huyện T đã được hộ gia đình ông B sử dụng ổn định, lâu dài và liên tục chứ không phải do ông B chiếm đất do Nhà nước quản lý từ ngày 15 tháng 7 năm 2020 đến ngày 08 tháng 6 năm 2021. Cho nên việc ông Dương Trung B yêu cầu hủy Quyết định số 168/QĐ-KPHQ ngày 15/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận là có cơ sở chấp nhận. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Trung B là có căn cứ và đúng pháp luật.

Yêu cầu kháng cáo của phía người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T là không có cơ sở để chấp nhận.

[5] Quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ủy ban nhân dân huyện T.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 42/2023/HC-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Dương Trung B:

  1. Hủy Quyết định số 168/QĐ-KPHQ ngày 15/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận.
  2. Về án phí phúc thẩm: Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai thu tiền số 0015391 ngày 15/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận, đương sự đã nộp đủ tiền.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Thuận;
  • - NKK;
  • - NBK;
  • - NCQL&NVLQ;
  • - Lưu: HS, VP, 20bTNB.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Mười

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 284/2024/HC-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 284/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kháng cáo toàn bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger