|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 284/2024/DS- PT Ngày: 10-5-2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy GCNQSDĐ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
- Các thẩm phán: Ông Dương Tuấn Vinh
Bà Nguyễn Thị Cúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 869/2023/TLPT - DS ngày 20 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1297/2024/QĐXXPT - DS ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1965
- Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1952
- Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Văn N: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền ngày 18/10/2022 (có mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Anh Phạm Chí N1, sinh năm 1990 (vắng mặt).
- Chị Phạm Thị Diễm M, sinh năm 2001 (vắng mặt)
- Anh Phạm Chí T1, sinh năm 1988 (vắng mặt)
- Chị Huỳnh N2, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh N1, chị M, anh T1, chị N2: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1965. Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Theo văn bản ủy quyền ngày 05/10/2019 và ngày 27/7/2019 (có mặt).
- Anh Phạm Văn N3, sinh năm 1976 (xin giải quyết vắng mặt)
- Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1986 (xin giải quyết vắng mặt)
- Anh Phạm Thành Đ, sinh năm 1986 (xin giải quyết vắng mặt)
- Anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 1987 (xin giải quyết vắng mặt)
- Chị Lý Thị Kiều T3, sinh năm 1977 (xin giải quyết vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh (xin giải quyết vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (xin giải quyết vắng mặt).
Người có kháng cáo: Nguyên đơn ông Phạm Văn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Phạm Văn H trình bày: Ông H có diện tích đất 4.870m², thửa 942, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đại diện hộ đứng tên vào ngày 30/6/1994. Thửa đất này có nguồn gốc của cha ông là ông Phạm Văn T4 tặng cho ông vào năm 1987. Quá trình sử dụng thửa đất 942 ông có tách ra thành 02 thửa là thửa 71, có diện tích 642,7m², thửa 72 có diện tích 941,1m², phần còn lại của thửa 942 diện tích 3.313,2m² nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giáp ranh với thửa đất 942 là thửa đất 943 của ông Phạm Văn N sử dụng. Phần đất tranh chấp thực đo gồm diện tích 33,4m² (phần A) và diện tích 106,7m² (phần B) là của gia đình ông, ông thừa nhận phần đất tranh chấp này là gia đình ông N sử dụng trồng cây từ thời cha ông là ông T4 còn sử dụng thửa đất 942, gia đình ông không có sử dụng phần đất tranh chấp này. Khi ông N sử dụng phần đất tranh chấp, cha ông có nói là đất của cha ông nhưng ông N vẫn sử dụng, do nghĩ ông N là con cháu nên cha ông để ông N sử dụng, để sau này nói với ông N. Đến khi ông được cha ông cho sử dụng thửa đất 942 thì ông có yêu cầu ông N trả lại phần đất tranh chấp nhưng chỉ nói miệng không có yêu cầu chính quyền giải quyết.
Nay ông yêu cầu gia đình ông Phạm Văn N trả lại cho ông phần diện tích đất tranh chấp 33,4m² (phần ký hiệu A) và phần diện tích 106,7m² (phần ký hiệu B) theo tư liệu năm 1991 nằm trong diện tích 4.870m², thửa đất 942, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh; ông xin rút lại yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích đất 20,9m² thuộc kênh (phần ký hiệu C) và phần diện tích đất 214m² theo tư liệu 1991 nằm trong thửa 942.
- Bị đơn ông Phạm Văn N trình bày: Ông N có đất diện tích 3.330m², thửa 943, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Thửa đất 943 này hiện nay ông N tách thành hai thửa là thửa số 02, có diện tích 2.938,9m² và thửa 87 có diện tích 653,9m². Nguồn gốc thửa 943 này là ông N nhận chuyển nhượng của người khác, thời gian ông N chuyển nhượng là trước năm vào tập đoàn. Sau khi chuyển nhượng ông N lên líp trồng cây, cất nhà ở, diện tích đất ông N sử dụng có luôn diện tích đất hiện nay ông Phạm Văn H tranh chấp với ông N. Sau khi mua, ông N sử dụng thửa đất 943 khoảng 02 năm thì ông Phạm Văn T4 (là chú ông N, là cha ông Phạm Văn H) mới chuyển nhượng thửa đất 942 sử dụng, đất ông T4 sử dụng từ mí ranh phần đất tranh chấp trở về thửa đất 942, còn phần diện tích đất tranh chấp là gia đình ông N sử dụng. Giữa gia đình ông N với ông T4 sử dụng đúng vị trí ranh đất của hai bên và không có tranh chấp gì. Sau này ông T4 cho phần đất thửa 942 cho con là ông Phạm Văn H sử dụng, ông H cũng sử dụng đúng ranh mà trước đây ông T4 sử dụng với ông N, ông H không có tranh chấp gì với ông N. Khoảng 05 năm trở lại đây, khi ông N móc dừa thì ông H nói “móc dừa bên ông N thì để bên ông Năm g, đừng để bên đất ông H” rồi ông H cự cãi và đi thưa ông N.
Nay ông N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H, đồng thời có yêu cầu phản tố được tiếp tục sử dụng phần diện tích đất tranh chấp 106,7m² (phần ký hiệu B) và yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông H đối với thửa đất 942; đối với phần diện tích đất tranh chấp 33,4m² (phần ký hiệu A) ông N đồng ý giao cho gia đình ông H quản lý, sử dụng cùng cây trái có trên đất do ông Năm t; ông N xin rút lại yêu yêu cầu phản tố đối với phần diện tích đất 20,9m² thuộc kênh (phần ký hiệu C).
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà Thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông Nguyễn Văn H1.
- Ông Nguyễn Văn H1 là người đại diện theo ủy quyền của anh Phạm Chí T1, chị Huỳnh N2, anh Phạm Chí N1, chị Phạm Thị Diễm M trình bày: Thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của ông H1.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị T2, anh Phạm Thành Đ, anh Phạm Văn Đ1, chị Lý Thị Kiều T3 trình bày: Các anh, chị thống nhất theo yêu cầu của ông N.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số:30/2023/DS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, đã tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H yêu cầu gia đình ông Phạm Văn N trả lại diện tích đất tranh chấp 106,7m² (phần ký hiệu B) và 33,4m² (phần ký hiệu A) nằm trong diện tích 4.870m², thửa 942 tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh theo tư liệu năm 1991.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn N.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 942, diện tích 4.870m², tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh mà Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ ông Phạm Văn H vào ngày 30/6/1994.
Hộ gia đình ông Phạm Văn N được tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất tranh chấp 106,7m² (phần ký hiệu B), nằm trong diện tích 2.938,9m², thuộc thửa 02, tờ bản đồ số 9, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phạm Văn N vào ngày 08/9/2014 (theo tư liệu 2006) (có Sơ đồ khu đất kèm theo).
Buộc hộ gia đình ông Phạm Văn N giao phần diện tích đất tranh chấp 33,4m² (Phần ký hiệu A) thuộc thửa số 942, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh theo tư liệu năm 1991(theo tư liệu năm 2006 thuộc thửa đất số 01) và cây trái có trên đất cho hộ gia đình ông Phạm Văn H quản lý, sử dụng (có Sơ đồ khu đất kèm theo).
Đề nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại quyền sử dụng đất đối với thửa đất 942, tờ bản đồ 1, loại đất TQ, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (theo tư liệu năm 1991) cho gia đình ông Phạm Văn H theo quy định của pháp luật sau khi trừ diện tích 106,7m² (phần ký hiệu B) mà Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phạm Văn N tại thửa số 2, diện tích 2.938,9m², tờ bản đồ số 9, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh vào ngày 08/9/2014 (theo tư liệu 2006).
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H yêu cầu gia đình ông Phạm Văn N trả lại diện tích đất 20,9m² thuộc kênh (phần ký hiệu C) và phần diện tích đất 214m² nằm trong diện tích 4.870m², thửa đất 942, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh theo tư liệu năm 1991.
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn N yêu cầu được tiếp tục sử dụng diện tích đất 20,9m² thuộc kênh (phần ký hiệu C) nằm trong diện tích 4.870m², thửa đất 942, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh theo tư liệu năm 1991.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, nguyên đơn ông Phạm Văn H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Văn H là trong hạn, hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
* Về nội dung:
[2]. Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Văn H về yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn N trả lại diện tích đất tranh chấp 106,7m² (phần ký hiệu B) và diện tích 33,4m² (phần ký hiệu A) theo “Sơ đồ khu đất” ngày 09/3/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T), tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh:
Xét về quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp 106,7m² (phần ký hiệu B) nêu trên: Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, vợ chồng ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T thừa nhận diện tích đất tranh chấp 106,7m² (phần ký hiệu B) là do gia đình ông N sử dụng trồng cây từ năm 1982 cho đến nay, gia đình ông H và bà T không sử dụng (Bút lục 194). Ông Phạm Văn T4 (cha ông H) cũng thừa nhận phần đất tranh chấp giữa ông H với ông N là do ông N sử dụng từ trước cho đến nay (Bút lục 150 - 151). Ngoài ra, Biên bản thẩm định ngày 07/11/2019 thể hiện trên phần đất tranh chấp có các cây trồng gồm: Dừa từ 07 – 25 năm tuổi 04 cây, dừa từ 01 – 02 năm tuổi 02 cây, tre cao trên 06 mét 169 cây, ông H cũng thừa nhận những cây trồng này là do ông Năm t (Bút lục 68 – 71).
[3]. Như vậy, diện tích đất 106,7m² (phần ký hiệu B) nêu trên được hộ ông N sử dụng liên tục từ năm 1982 đến nay là hợp pháp. Còn hộ ông H không trực tiếp quản lý, sử dụng nay ông H mới tranh chấp đòi gia đình ông N trả lại là không có căn cứ chấp nhận.
[4]. Xét Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 730532, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 06067/QSDĐ ngày 30/6/1994 của Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ ông Phạm Văn H đối với diện tích 4.870m² thửa đất 942, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh trong đó có diện tích đất 106,7m² do hộ ông N sử dụng từ năm 1982. Tại Công văn số: 1024/CNHTC ngày 11/12/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T và theo “Sơ đồ khu đất” ngày 09/3/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T, thể hiện: Theo tư liệu năm 2006, thể hiện diện tích đất tranh chấp 106,7m² (phần ký hiệu B) nằm trong thửa đất 02, diện tích 2.938,9m², tờ bản đồ số 9, tọa lạc ấp T, xã H được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phạm Văn N vào ngày 08/9/2014. Nhưng theo tư liệu năm 1991, lại thể hiện diện tích đất tranh chấp nêu trên nằm trong thửa 942, diện tích 4.870m², tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp T, xã H, được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phạm Văn H vào ngày 30/6/1994. Diện tích đất nêu trên do gia đình ông N là người trực tiếp sử dụng, nên Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông N là đúng đối tượng, nhưng cùng một diện tích đất 106,7m² UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H nữa là trái pháp luật.
[5]. Từ những căn cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H buộc gia đình ông trả lại diện tích đất tranh chấp 106,7m² và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H là có năn cứ. Nên kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Văn H không được chấp nhận.
[6]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu.
[8]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn H.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2023/DS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Căn cứ Điều 1, Điều 2, Điều 20, Điều 26, Điều 73 của Luật Đất đai năm 1993; Khoản 3, 20 Điều 4, Điều 10, Điều 15, khoản 11 Điều 38, Điều 48, khoản 3 Điều 49, Điều 50, Điều 105 của Luật Đất đai năm 2003; khoản 9, 30 Điều 3, Điều 5, Điều 12, Điều 16, Điều 17, Điều 26, điểm h khoản 1 Điều 64, Điều 99, Điều 100, Điều 101, Điều 166 Điều 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Thông tư số: 346/1998/TT – TCĐC ngày 16/3/1998 của T5 hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H buộc hộ ông Phạm Văn N trả lại diện tích đất tranh chấp 106,7m² tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có ký hiệu B “Sơ đồ khu đất” ngày 11/12/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T).
Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn N.
- Công nhận diện tích đất 106,7m² thửa 02, tờ bản đồ số 9, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có ký hiệu B “Sơ đồ khu đất” ngày 11/12/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ ông Phạm Văn N (đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phạm Văn N vào ngày 08/9/2014 (theo tư liệu 2006). Đất có vị trí, tứ cận như sau:
- - H: Giáp phần còn lại của thửa đất số 02 (theo tư liệu năm 2006) có chiều dài 42,68m.
- - Hướng Tây: Giáp phần còn lại của thửa đất số 02 và giáp thửa đất số 01 (theo tư liệu năm 2006) gồm 03 đoạn: đoạn có chiều dài 27,3m, đoạn có chiều dài 3,79m, đoạn có chiều dài 13,5m.
- - H: Giáp Kênh (phần ký hiệu C) có chiều dài 7,7m.
- - Hướng Bắc: là điểm tiếp giáp giữa thửa đất số 01 với thửa đất số 02 (theo tư liệu 2006) có số đo bằng 0 (được đánh dấu là điểm số 02).
(Kèm theo Sơ đồ khu đất ngày 09/3/2020 của Chi nhánh V1. ĐKĐĐ huyện T).
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 730532, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 06067/QSDĐ ngày 30/6/1994 của Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Phạm Văn H đối với thửa đất 942, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Đề nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 942, tờ bản đồ 1, tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh cho ông Phạm Văn H theo quy định của pháp luật đất đai (sau khi trừ diện tích 106,7m² (phần ký hiệu B) của ông Phạm Văn N).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phú thẩm ông Phạm Văn H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0018020 ngày 24/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 284/2024/DS-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 284/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Phạm Văn H kiện ông Phạm Văn N v/v “tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy GCNQSDĐ”
