TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 284/2023/HS-ST Ngày: 30-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thành Viên.
- Bà Châu Thị Lệ .
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Quách Diệp Nguyệt T - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 271/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 344/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Mai Đại H, sinh năm: 1995, tại: Cần Thơ; hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn B và bà Lê Ngọc Đ; chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày: 15/9/2022; (Có mặt).
Bị hại: Hộ kinh doanh H2; địa chỉ: A đường N, Phường E, quận G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện hộ kinh doanh: Bà Trần Thị Kim D, sinh năm 1982; địa chỉ: B N, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: A Đường số E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Mai Đại H là nhân viên của của tiệm C, địa chỉ: số A đường N, Phường E, quận G từ năm 2017 do bà Trần Thị Kim D làm chủ. Mai Đại H được bà Trần Thị Kim D giao quản lý toàn bộ việc cầm cố và quản lý cửa hàng, bà Trần Thị Kim D không thường xuyên có mặt tại cửa hàng mà chỉ quản lý qua sổ sách. Khi khách hàng đến cầm cố thì Mai Đại H chỉ chụp hình tài sản cầm cố cho bà Trần Thị Kim D để định giá trị cầm cố, còn thủ tục hợp đồng và thực hiện giao dịch trả tiền, nhận tiền là do Mai Đại Hiệp tự thực hiện. Hàng ngày bà D đưa cho H số tiền 50.000.000 đồng để H thực hiện việc cầm đồ, đến cuối ngày nếu còn 20.000.000 đồng thì bà D sẽ đưa thêm. Đối với khách hàng đến chuộc đồ đã cầm thì Mai Đại Hiệp tự thực hiện mà không cần hỏi ý kiến của bà Trần Thị Kim D. Đến ngày 30/9/2021, bà Trần Thị Kim D tiến hành kiểm kê tài sản tại cửa hàng và phát hiện Mai Đại H đã chiếm đoạt khoảng 120.500.000 đồng nên bà Trần Thị Kim D đã trình bảo Công an P, quận G. Quá trình điều tra xác định: Trong quá trình làm việc, Mai Đại H thấy bà Trần Thị Kim D tin tưởng giao quản lý tài sản và tiền dùng để cầm đồ cho khách hàng lỏng lẻo nên Mai Đại H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà Trần Thị Kim D. Do đó, Mai Đại H đã nhiều lần dùng thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản của chị Trần Thị Kim D, cụ thể:
Lần thứ 1: Ngày 24/3/2021, Mai Đại H điện thoại cho bà Trần Thị Kim D báo có khách hàng đến cầm cố 01 điện thoại di động hiệu Iphone còn sử dụng được, Mai Đại H chụp hình gửi cho bà Trần Thị Kim D xem, bà Trần Thị Kim D đồng ý cầm với số tiền 7.000.000 đồng. Khi khách hàng chuộc lại điện thoại và trả tiền cho tiệm cầm đồ thì Mai Đại H đặt mua 01 điện thoại Iphone Trung Quốc thay thế vào, Mai Đại H chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng của bà Trần Thị Kim D.
Lần thứ 2: Ngày 05/4/2021, Mai Đại H làm khống 01 hợp đồng cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS max với giá 7.000.000 đồng sau đó chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng.
Lần thứ 3: Ngày 17/4/2021, Mai Đại H làm khống 01 hợp đồng cầm 01 chiếc xe gắn máy biển số: 59Z2 – 221.44 sau đó chiếm đoạt số tiền 25.000.000 đồng.
Lần thứ 4: Ngày 17/5/2021, Mai Đại H làm khống 01 hợp đồng cầm 01 chiếc xe gắn máy biển số: 55V1 – 716.94 sau đó chiếm đoạt số tiền 35.000.000 đồng.
Lần thứ 5: Ngày 27/6/2021, Mai Đại H làm khống hợp đồng cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS max với giá 7.500.000 đồng sau đó chiếm đoạt số tiền 7.500.000 đồng.
Lần thứ 6: Ngày 09/7/2021, Mai Đại H làm khống hợp đồng cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax với giá 15.000.000 đồng sau đó chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng.
Ngoài ra, vào tháng 11/2020 có khách hàng đến gặp Mai Đại H cầm cố 02 chiếc điện thoại iPhone 11 Promax. Tuy nhiên, sau đó khách đã chuộc lại 02 chiếc điện thoại thì M Đại Hiệp mua 02 điện thoại Trung Quốc giống của khách thay thế vào 02 điện thoại khách đã chuộc, chiếm đoạt 40.000.000 đồng. Bà Trần Thị Kim D phát hiện sự việc Mai Đại H chiếm đoạt 40.000.000 đồng thì Mai Đại H đã trả cho bà Trần Thị Kim D số tiền 17.000.000 đồng, còn lại số tiền 23.000.000 đồng Mai Đại H chưa trả cho bà Trần Thị Kim D. Ngày 10/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã khởi tố vụ án, ngày 21/01/2022 khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Mai Đại H. Do Mai Đại H bỏ trốn nên ngày 10/5/2022, Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã. Ngày 15/9/2022, Mai Đại H bị bắt theo Quyết định truy nã. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Mai Đại H đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị Kim D cho biết Mai Đại H chiếm đoạt tổng số tiền là 136.500.000 đồng, Mai Đại H đã khắc phục trả nhiều lần tổng cộng được 96.000.000 đồng, hiện còn 40.500.000 đồng Mai Đại H chưa trả, bà yêu cầu bị cáo tiếp tục trả hết số tiền chiếm đoạt còn lại là 40.500.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 03 điện thoại di động hiệu Iphone XS max, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max, đã được niêm phong có chữ ký của Mai Đại H và dấu Công an Phường 5 quận G là những điện thoại Iphone Trung Quốc đã hư hỏng Mai Đại H mua lại mục đích để thay vào các điện thoại khách đã chuộc lại nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền của tiệm cầm đồ của bà Trần Thị Kim D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã nhập kho toàn bộ số vật chứng nêu trên theo phiếu nhập kho số 180/PNK, ngày 02/12/2022.
- 06 hợp đồng cầm cố tài sản do Mai Đại H lập khống vào các ngày 24/3/2021, 05/4/2021, 17/4/2021, 17/5/2021, 27/6/2021, 09/7/2021 mục đích để chiếm đoạt tài sản của tiệm cầm đồ của bà Trần Thị Kim D (kèm theo hồ sơ vụ án).
Tại bản cáo trạng số 264/CT-VKS-GV, ngày 11/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Mai Đại H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù.
- Về hình phạt bổ sung miễn phạt cho bị cáo.
Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung 2017 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu, tiêu hủy 03 điện thoại di động hiệu Iphone XS max, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max.
- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 07 hợp đồng cầm cố tài sản do Mai Đại H lập khống vào các ngày 24/3/2021, 05/4/2021, 17/4/2021, 17/5/2021, 27/6/2021, 09/7/2021, 15/7/2021.
- Buộc bị cáo bồi thường cho bà Trần Thị Kim D số tiền 40.500.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của bị hại tại phiên tòa: Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án thể hiện bị hại có yêu cầu bồi thường, đã trình bày lời khai, vì vậy căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại.
[2] Tại phiên toà hôm nay, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Mai Đại H đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Mai Đại H được bà D giao toàn bộ việc kinh doanh và quản lý tài sản của H1 kinh doanh Hoàng Thắng 5, sau đó bị cáo nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản là số tiền mà bà D đã giao để thực hiện việc kinh doanh cầm đồ, tổng cộng số tiền chiếm đoạt là 136.500.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Mai Đại H đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tiệm cầm đồ Hoàng Thắng được đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh do cá nhân là bà Trần Thị Kim D đăng ký. Theo quy định pháp luật hiện hành thì hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân, không được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp mà do Nghị định 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ quy định. Căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành thì hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước nên không thuộc trường hợp quy định tại Điều 352 của Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi của Mai Đại H không thuộc trường hợp cấu thành của Tội tham ô tài sản quy định tại Điều 353 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo chiếm đoạt tài sản tổng cộng là 136.500.000 đồng nên thuộc trường hợp định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo cố ý 05 lần thực hiện việc chiếm đoạt tài sản trở lên, tuy nhiên bị cáo lúc phạm tội cũng đang là nhân viên của tiệm cầm đồ với mức lương ổn định từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng/tháng, là thu nhập chính của bị cáo, tiền chiếm đoạt được bị cáo sử dụng để trả nợ nên có căn cứ cho rằng bị cáo không lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống, lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính. Do đó, hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp định khung “Có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 264/CT-VKS-GV, ngày 11/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên đây là tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện tích cực bồi thường thiệt hại một phần cho bị hại, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa hôm nay bị hại Hộ kinh doanh Hoàng Thắng 5 có đại diện hợp pháp là bà Trần Thị Kim D có đơn xin vắng mặt. Qua hồ sơ thể hiện bà Trần Thị Kim D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt được 96.000.000 đồng, hiện còn 40.500.000 đồng, bà D yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 40.500.000 đồng. Bà D trình bày do việc kinh doanh khó khăn nên hiện tại tiệm cầm đồ Hoàng Thắng 5 đang tạm ngưng hoạt động, hộ kinh doanh không có tài khoản riêng mà chính là tài khoản của cá nhân bà D, số tiền bị cáo chiếm đoạt của tiệm cầm đồ cũng chính là tiền của bà D nên yêu cầu bị cáo hoàn trả tiền bồi thường cho bà D. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 40.500.000 đồng cho bà D. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là yêu cầu và sự thỏa thuận tự nguyện không trái pháp luật nên ghi nhận.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 03 điện thoại di động hiệu Iphone XS max, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max là những điện thoại Iphone Trung Quốc mô hình, đã hư hỏng Mai Đại H mua lại mục đích để thay vào các điện thoại khách đã chuộc lại nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền của tiệm cầm đồ của bà Trần Thị Kim D, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 07 hợp đồng cầm cố tài sản do Mai Đại H lập khống vào các ngày 24/3/2021, 05/4/2021, 17/4/2021, 17/5/2021, 27/6/2021, 09/7/2021, 15/7/2021, là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án.
[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[9] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Mai Đại H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Mai Đại H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/9/2022.
Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy 03 điện thoại di động hiệu Iphone XS max, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max.
- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 07 hợp đồng cầm cố tài sản do Mai Đại H lập khống vào các ngày 24/3/2021, 05/4/2021, 17/4/2021, 17/5/2021, 27/6/2021, 09/7/2021.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 180/PNK, ngày 02/12/2022 của Công an quận G).
Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bà Trần Thị Kim D số tiền 40.500.000 đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Dân sự;
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo không bồi thường số tiền nêu trên cho bà Trần Thị Kim D thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Việc thi hành án được thực hiện tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 2.025.000 đồng (Bằng chữ: Hai triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Châu Ly |
Bản án số 284/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 284/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Đại H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"
