Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 284/2021/HSPT

Ngày: 25-11-2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn.

Các Thẩm phán: Ông Trần Duy Tuấn, bà Đinh Thị Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bế Văn Toàn – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 285/2021/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Lê Thị A T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 260/2020/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lê Thị A T; Tên gọi khác: U; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 08 tháng 8 năm 1971, tại: tỉnh Bình Định; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu vực 5, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: 112/7 P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Họ và tên cha: Lê Văn B (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị D (đã chết); Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, từ ngày 27 tháng 5 năm 2021 cho đến nay, (có mặt tại phiên tòa).

Nhân thân: Năm 2011, bị Công an thành phố Buôn Ma Thuột, xử phạt hành vi hành chính về hành vi đánh bạc.

Ngoài ra, còn có bị cáo Nguyễn Mạnh H không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố B và bản án hình sự sơ thẩm của tòa án nhân dân thành phố B thì nội dung vụ án như sau:

Nguyễn Mạnh H là người nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp và nơi ở nhất định. Vào khoảng 02h30’ ngày 25 tháng 4 năm 2021, H đi bộ trên các tuyến đường thuộc địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk mục đích tìm nhà dân sơ hở trong việc quản lý tài sản thì đột nhập trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân. Khi đi đến nhà sách H, địa chỉ: 01 H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thuộc Công ty cổ phần VH do ông Trịnh Minh H làm Giám đốc. H thấy nhà sách trên đang sơn sửa, không có người trông coi quản lý, nên nảy sinh ý định đột nhập vào trong tìm tài sản trộm cắp. H đã lấy trộm 01 máy mài góc cầm tay hiệu Makita, 02 máy đục bê tông hiệu Hitachi và Makita của ông Vũ Trọng L.

Sau khi trộm cắp, H gọi cho Bùi Quốc H chở đi tiêu thụ. H liên hệ với Lê Thị A T qua điện thoại và mang 03 máy trộm cắp được đến phòng trọ của T tại 112/7 P, phường T, thành phố B. Tại đây, mặc dù biết rõ là tài sản do H trộm cắp mà có nhưng T vẫn đồng ý mua với giá 1.000.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2021, tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 6.897.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 260/2020/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã quyết định: Tuyên bị cáo Lê Thị A T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Xử phạt bị cáo Lê Thị A T 01 (Một) năm tù.

Ngày 03 tháng 9 năm 2021, bị cáo Lê Thị A T kháng cáo xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Lời khai của bị cáo Lê Thị A T tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo biết rõ tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn tiêu thụ. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp thêm giấy chứng nhận mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị D là người có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, do bị cáo có nhân thân xấu nên không có căn cứ cho hưởng án treo.

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Thị A T (U) – Sửa Bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 323, Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Thị A T (U) 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[3] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND TP. Buôn Ma Thuột;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 284/2021/HSPT ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 284/2021/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger