|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA Bản án số: 283/2024/HS - ST Ngày 28 - 9 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung.
- - Các hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Thôn, Bà Lường Thị Khuyển.
- - Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 282/2024/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 279/2024/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T - Sinh năm 1989; Nơi cư trú: Bản T2, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Lò Văn C (đã chết) và con bà Lường Thị S1; Bị cáo có vợ là Lò Thị X và có 02 con (Con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/7/2024 và chuyển tạm giam từ ngày 08/8/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị X, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Bản T2, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 00 phút, ngày 30/7/2024 tổ công tác Công an xã M, huyện S đến nhà của Lò Văn T để test thử ma tuý. Quá trình tổ công tác làm việc T có thừa nhận đã sử dụng ma tuý và T đã lấy từ dưới gối trong giường ngủ ra giao nộp một gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột liên kết và các mảnh viên nén màu hồng (T khai nhận là Hồng phiến và Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lò Văn T nhưng không thu giữ gì thêm và tạm giữ 01 xe mô tô có biển kiểm soát 26C1 - 262.89.
Ngày 30/7/2024 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả: số bột màu trắng và các mảnh viên nén màu hồng có khối lượng là 0,11 gam đã sử dụng toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu T.
Tại bản kết luận giám định số 1543/KL ngày 02/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
- Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam.
- Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,11 gam; loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
Quá trình điều tra Lò Văn T khai nhận: Khoảng 14 giờ, ngày 29/7/2024 T đem theo số tiền 200.000đ rồi điều khiển xe mô tô có biển kiểm soát 26C1 - 262.89 của gia đình đi từ nhà đến khu vực xã N, huyện S để tìm mua ma tuý về sử dụng, trên đường đi T đã mua xăng và ăn uống hết số tiền 100.000đ. Khi đến địa phận xã Nà Nghịu thì T gặp một nam thanh niên không rõ danh tính chính xác, T đã gặp trước đó một lần ở xã H, huyện S. T đã hỏi mua được của người này một ít Heroine với các mảnh Hồng phiến được gói chung bằng mảnh nilon màu xanh với số tiền 100.000đ. Mua được ma tuý T đem về nhà và giấu gói ma tuý dưới gối ngủ, đến khoảng 08 giờ ngày 30/7/2024 khi T đang ở nhà thì tổ công tác Công an xã M, huyện S đến nhà làm nhiệm vụ đã phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 227/CT-VKSSM ngày 05 tháng 9 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 năm 02 tháng - 01 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy mảnh nilon và phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc mở. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan một chiếc xe mô tô. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: chị là vợ của bị cáo T, chiếc xe có BKS 26C1-262.89 thu giữ trong vụ án là tài sản của gia đình chị, khi bị cáo sử dụng xe vào việc đi mua ma túy chị không hay biết. Nay chị đề nghị được xin lại chiếc xe để gia đình làm phương tiện đi lại.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình không có ý kiến tranh luận gì và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 08 giờ 10 phút, ngày 30/7/2024 đối với Lò Văn T cùng vật chứng bị thu giữ là một gói nilon chứa chất bột liên kết màu trắng và các mảnh viên nén màu hồng. Kết luận giám định số 1543/KL ngày 02/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “... Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,11 gam loại Methamphetamine Heroine (Heroin)
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 30/7/2024 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 0,11 gam ma túy loại Heroine và Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.
Như vậy, nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm để thỏa mãn cơn nghiện ma túy của bản thân, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, cho bị cáo có thời gian cách ly khỏi xã hội đảm bảo cai nghiện được ma túy, cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án:
Số ma túy đã sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 mảnh nilon màu xanh và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Chiếc mô tô có biển kiểm soát 26C1- 262.89 thu giữ trong vụ án xác định được là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng bị cáo, khi bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy vợ bị cáo không biết và có đề nghị được trả lại nên HĐXX chấp nhận.
[7] Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
Về người thanh niên bị cáo khai là người đã bán ma túy, bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
- Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc mở. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 0005582.
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 01 xe mô tô có biển kiểm soát 26C1-262.89.
- Theo Quyết định chuyển vật chứng số 215QĐ – VKS ngày 05/9/2024 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/9/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Các Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
- Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |
Bản án số 283/2024/HS - ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 283/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng thì bị bắt quả tang
