Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 283/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23 – 7 – 2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Thanh Phong;
  2. Ông Võ Hoàng Nghiệp.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 211/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 393/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Bà Lê Thị Hồng M, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị Hồng M vắng mặt, cùng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị Hồng M; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị Hồng M tự tìm hiểu, quen biết và được gia đình cho tiến đến hôn nhan vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 037/2015, quyển số 01/2015 ngày 04/6/2015. Sau khi kết hôn, ông K và bà M làm công nhân ở Bình Dương. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng không còn quan tâm, chia sẻ, mạnh ai nấy sống. Đến tháng 4/2023, ông K và bà M sống ly thân từ đó cho đến nay, không liên hệ, không hàn gắn tình cảm. Gia đình hai bên cũng cố gắng hòa giải, động viên nhưng cả hai không thể hàn gắn. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ông K có yêu cầu được ly hôn bà M, bà M cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông K.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị Hồng M thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập bà Lê Thị Hồng M để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 01/7/2024 nhưng bà M vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự.

Ngày 01/7/2024, ông Nguyễn Văn K có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, yêu cầu không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử do bận đi làm ăn xa. Bà Lê Thị Hồng M cũng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt vào ngày 10/7/2024.

- Về tài liệu, chứng cứ:

Các tài liệu, chứng cứ do ông Nguyễn Văn K giao nộp: Giấy chứng nhận kết hôn số số 37/2015, quyển số I/2015 ngày 04 tháng 6 năm (bản photo); Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn K (bản sao); Đơn khởi kiện ngày 20/5/2024 (bản chính).

Các tài liệu, chứng cứ do bà Lê Thị Hồng M giao nộp: Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 10/7/2024 (bản chính).

Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản lấy lời khai bà Lê Thị Hồng M ngày 10/7/2024 và bản tự khai ông Nguyễn Văn T cùng ngày 02/7/2024.

Tại phiên tòa, do ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị Hồng M đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Theo bản tự khai ngày 02/7/2024, ông Nguyễn Văn T là cha ruột của ông Nguyễn Văn K cho biết: Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị Hồng M tự tìm hiểu, quen biết và được gia đình cho tiến đến hôn nhân vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Quá trình chung sống không hạnh phúc. Gia đình hai bên cũng cố gắng hòa giải, động viên cả hai hàn gắn tình cảm nhưng không thể hàn gắn. Đến năm 2023 thì ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị Hồng M sống ly thân. Cả hai chung sống không có con chung. Ông T yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập do bận công việc làm ăn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn K; về con chung, về tài sản chung và nợ chung, ông K và bà M khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Ông K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, bà M không phải chịu án phí.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ông Nguyễn Văn K có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt, bà Lê Thị Hồng M cũng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, vụ án được xem không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết:

Bà Lê Thị Hồng M có nơi thường trú tại: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị Hồng M chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau. Cả hai đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay không hàn gắn tình cảm, mặc dù gia đình đã động viên, hòa giải. Ông K yêu cầu được ly hôn với bà M và bà M đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông K. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông K và bà M đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông K theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Không có.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị Hồng M thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Lê Thị Hồng M không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị Hồng M có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 53; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; các điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn K được ly hôn bà Lê Thị Hồng M.

2. Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà ông K đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009488 ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Bà Lê Thị Hồng M không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị Hồng M. Ông K và bà M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, KhoaKhoađịnh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện An Phú;
  • - THADS huyện An Phú;
  • - UBND xã Đốc Binh Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 283/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 283/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Khoa và bà Lê Thị Hồng Mai tự tìm hiểu, quen biết và được gia đình cho tiến đến hôn nhan vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Đốc Binh Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 037/2015, quyển số 01/2015 ngày 04/6/2015. Sau khi kết hôn, ông Khoa và bà Mai làm công nhân ở Bình Dương. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng không còn quan tâm, chia sẻ, mạnh ai nấy sống. Đến tháng 4/2023, ông Khoa và bà Mai sống ly thân từ đó cho đến nay, không liên hệ, không hàn gắn tình cảm. Gia đình hai bên cũng cố gắng hòa giải, động viên nhưng cả hai không thể hàn gắn. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ông Khoa có yêu cầu được ly hôn bà Mai, bà Mai cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Khoa. Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Văn Khoa và bà Lê Thị Hồng Mai thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger