|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 283/2024/HS-ST Ngày 20-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 293/2024/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T (tên gọi khác: C), sinh năm 1996 tại tỉnh Hậu Giang; nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C1, sinh năm 1967 và bà Trần Thị H, sinh năm 1967; bị cáo có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất là bị cáo; có vợ là bà Lê Thị P, sinh năm 1999 và có 01 con sinh năm 2015;
Tiền án: Ngày 26/11/2021, bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” thực hiện ngày 03/8/2021 theo Bản án 40/2021/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/11/2022 và chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 30/3/2022.
Tiền sự:
- - Ngày 19/6/2018, bị Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang xử phạt số tiền 1.500.000 đồng đối với hành vi “Đánh bạc” bị phát hiện ngày 16/12/2017. Bị cáo đã nhận Quyết định nhưng chưa chấp hành.
- - Ngày 26/4/2024, bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” thực hiện ngày 14/3/2024 theo Quyết định số 18/QĐ-TA. Bị cáo chưa chấp hành.
Nhân thân:
- - Ngày 23/02/2021, bị Ủy ban nhân dân phường T, huyện C, tỉnh Hậu Giang áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” trong thời hạn 03 tháng. Bị cáo chấp hành xong ngày 23/5/2021.
- - Ngày 27/9/2024, bị Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương xử phạt số tiền 1.500.000 đồng đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” bị phát hiện ngày 01/7/2024. Bị cáo chưa chấp hành.
Ngày 01/7/2024, bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Lê Vân K, sinh năm 2006; địa chỉ thường trú: Số G đường H, khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Văn R, sinh năm 2004; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; địa chỉ tạm trú: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
Người làm chứng: Ông Phạm Anh H1. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn T là đối tượng nghiện ma tuý. Khoảng tháng 4/2024, Trần Văn T sống cùng vợ tại phòng số 5, nhà trọ không tên thuộc khu phố A phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Do không có tiền tiêu xài và mua ma tuý sử dụng, T nảy sinh ý định đi cướp giật tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài.
Khoảng 21 giờ ngày 01/7/2024, T mượn xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 72E1-530.80 của ông Lê Văn R, nói sử dụng đi công việc rồi điều khiển xe đi quanh khu vực khu công nghiệp M 3 để tìm người đi đường có tài sản để sở hở để cướp giật. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường NE8 thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Thật phát hiện ông Phạm Anh H1 đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 61G1-800.73 chở bà Lê Vân K ngồi sau, chị K đang cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh, dung lượng 64GB trên tay phải nói chuyện điện thoại. Thật liền điều khiển xe mô tô biển số 72E1-530.80 chạy theo áp sát bên phải xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 61G1-800.73 và dùng tay trái giật lấy chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 của bà K, rồi nhanh chóng tăng ga xe chạy trốn. Lúc này, ông H1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 61G1-800.73 đuổi theo Thật được khoảng 200 mét thì va vào đuôi xe mô tô biển số 72E1-530.80 làm Thật, ông H1 và bà K té ngã xuống đường. Sau đó, ông H1 cùng quần chúng nhân dân bắt giữ Thật và giao Công an phường T xử lý.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Winer, màu cam đen, số khung 2605GY107530, số máyKC26E1144232, biển số 72E1-530.80.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, dung lượng 64GB.
Theo Kết luận định giá số 71/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, dung lượng 64GB trị giá 5.050.000 đồng.
Theo Kết quả xét nghiệm ngày 01/7/2024 tại Công an phường T, thử nước tiểu của Trần Văn T thì T dương tính với ma túy loại Methamphetamin.
Quá trình điều tra, Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 295/CT-VKS ngày 23/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn T về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 295/CT-VKS ngày 23/10/2024.
Tại phần tranh luận:
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát theo Cáo trạng số 295/CT-VKS ngày 23/10/2024 đối với bị cáo Trần Văn T về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tuyên: Trả cho ông Lê Văn R 01 xe mô tô hiệu Honda Winer, màu cam đen, số máy KC26E1144232, không kiểm tra được số khung, biển số 72E1-530.80 (xe không gương, không khóa, xe bị vỡ ốp nhựa và trầy xước một số vị trí, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát truy tố và đề nghị.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lê Văn R không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 01/7/2024, tại đường N thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Trần Văn T có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 72E1-530.80 áp sát xe mô tô biển số 61G1-800.73 do ông Nguyễn Anh H2 điều khiển chở bà Lê Vân K và giật lấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 của bà K trị giá 5.050.000 đồng rồi nhanh chóng bỏ chạy trốn.
Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 295/CT-VKS ngày 23/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm hại quyền sở hữu tài sản của bị hại, đe dọa và gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi giao trả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo từng bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” năm 2021, đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí hình sự sơ thẩm, nhưng chưa xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền sự về hành vi “Đánh bạc” năm 2018 và “Sử dụng trái phép chất ma tuý” vào năm 2024 nhưng đều chưa chấp hành. Ngoài ra, năm 2021, bị cáo bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” trong thời hạn 03 tháng, đã chấp hành xong. Tiếp đó, năm 2024, bị xử phạt số tiền 1.500.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, chưa chấp hành. Do đó, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, với lần phạm tội này cần phải xét xử bị cáo thật nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Đối chiếu với những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài để cải tạo và giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt của bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 của bà Lê Vân K là chủ sở hữu. Ngày 05/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả điện thoại cho bà K, bà K không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô hiệu Honda Winer, biển số 72E1-530.80, số máy KC26E1144232, số khung 2605GY107530 do ông Nguyễn Văn L (sinh năm 1995, nơi thường trú: Tổ I, khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đứng tên chủ sở hữu (hiện ông L đã bỏ đi khỏi địa phương, hiện không rõ ông L đang ở đâu). Khoảng tháng 9/2021, ông Bùi Văn C2 (sinh năm 1995; nơi thường trú: Khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) làm nghề mua bán xe mô tô mua xe mô tô biển số 72E1-530.80 của 01 người (không rõ lai lịch) ở huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá 22.000.000 đồng nhằm bán lại kiếm lời. Ngày 08/11/2021, ông C2 bán xe mô tô biển số 72E1-530.80 cho ông Lê Văn E (sinh năm 1984; nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang). Sau đó, ông E bán xe cho ông Lê Văn R là em ruột của Em với giá 10.000.000 đồng. Ông R đang quản lý, sử dụng xe này. Ngày 01/7/2024, ông R cho T mượn xe. Rồi không biết việc T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình tham gia tố tụng, ông R yêu cầu nhận lại xe này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu của xe mô tô biển số 72E1-530.80 nhưng đến nay vẫn không nhận được tin tức gì về chủ sở hữu xe này. Theo kết quả tra cứu trên Cơ sở dữ liệu lưu trữ tại Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 tính đến ngày 04/7/2024 thì xe có đặc điểm nêu trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Do đó, cần trả xe này cho ông R là phù hợp với quy định pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 01/7/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Trả cho ông Lê Văn R 01 xe mô tô hiệu Honda Winer, màu cam đen, số máy KC26E1144232, không kiểm tra được số khung, biển số 72E1-530.80 (xe không gương, không khóa, xe bị vỡ ốp nhựa và trầy xước một số vị trí, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
(Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân thành phố Bến Cát).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |
Bản án số 283/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 283/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo T phạm tội cướp giật tài sản
