|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án: 283/2024/DS-ST Ngày: 30/9/2024 “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà.
Các hội thẩm nhân dân:Bà Lương Thảo Vy;
Bà Huỳnh Thị Lệ Thu.
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Mỹ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 30/9/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 165/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 537/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa 625/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà số 1518/2024/TB-TA ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K. Địa chỉ trụ sở: 40-42-44, đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M. Chức danh: Tổng giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Khoa H, sinh năm 1984 – chuyên viên xử lý nợ và Tài chính vi mô của Ngân hàng TMCP K. Địa chỉ: Số D, đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Lê Hồng P, sinh năm 1991. Địa chỉ: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn Ngân hàng TMCP K và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Lê Hồng P có đề xuất vay vốn tại Ngân hàng TMCP K (gọi tắt là “Ngân hàng”), theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số: 0017/18/TD/1201-2673 ngày 13/12/2018 với nội dung như sau: Hạn mức tín dụng đề xuất: 50.000.000 đồng; Loại thẻ: VISA CREDIT GOLD – K2; Lãi suất vay: theo mức lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ; Thời hạn vay: 36 tháng; Phương thức trả nợ: Theo quy định của Ngân hàng về sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế; Điều kiện áp dụng: Theo quy định của Ngân hàng về sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế.
Trong quá trình sử dụng dịch vụ thẻ khách hàng đã vi phạm hợp đồng. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở và khách hàng cũng đã cam kết nhưng không thực hiện đúng cam kết. Tính nợ đến ngày mở phiên toà ngày 30/9/2024, khách hàng còn nợ Ngân hàng số tiền cụ thể là: 32.120.921 đồng (Trong đó: nợ gốc còn lại là 14.034.688 đồng; lãi phát sinh còn lại là 14.335.907 đồng; phí phạt chậm trả còn lại là 2.150.326 đồng; phí phạt vượt hạn mức còn lại là 1.600.000 đồng).
Căn cứ Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký giữa Ngân hàng và khách hàng; Căn cứ các quy định pháp luật hiện hành. Nay ngân hàng TMCP K có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề sau: Buộc ông Lê Hồng P phải thanh toán cho Ngân hàng K số tiền: 32.120.921 đồng. Sau khi Q định/Bản án có hiệu lực pháp luật mà ông P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành án buộc khách hàng trả toàn bộ số nợ, bao gồm gốc, lãi, phí phát sinh theo thảo thuận tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký.
Bị đơn ông Lê Hồng P vắng mặt các lần Tòa án triệu tập, không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên toà,
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Khoa H vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Chủ tọa công bố đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu về việc tuân theo pháp luật và quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về quyền kháng cáo, án phí đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Hồng P trả số tiền vay theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế đây. Do đó, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng về vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[1.2] Về thẩm quyền: Ông Lê Hồng P có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[1.3] Về tài liệu, chứng cứ: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Các đương sự có mặt thống nhất các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo kết quả phiên họp cho đương sự vắng mặt. Do đó Tòa án sẽ xem xét làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu trả tiền của nguyên đơn
Căn cứ Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số: 0017/18/TD/1201-2673 ngày 13/12/2018. Bên cạnh đó, ông P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông không có ý kiến phản đối là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng, ông P có vay tín dụng của Ngân Hàng TMCP K với hạn mức tín dụng đề xuất: 50.000.000 đồng; Loại thẻ: VISA CREDIT GOLD – KHONG TSBD. Ông P đã sử dụng vốn vay với số tiền là 14.034.688 đồng, đã quá hạn nhưng ông P không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng TMCP K.
Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Do đó, Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông P trả lại tiền vốn vay 14.034.688đ (Mười bốn triệu không trăm ba mươi bốn nghìn sáu trăm tám mươi tám đồng) là có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu tính lãi và phí sử dụng thẻ
Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông P trả lãi suất trong hạn là 22%/năm, phí phạt chậm trả là 3,5% một tháng trên số tiền chậm trả và phí phạt vượt hạn mức là 0,075%/ngày. Hội đồng xét xử thấy rằng, căn cứ Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số: 0017/18/TD/1201-2673 ngày 13/12/2018. Bên cạnh đó, ông P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông không có ý kiến phản đối là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định việc thỏa thuận lãi suất, phí trên là có xảy ra trên thực tế.
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi, bổ sung 2017:“Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.” và hướng dẫn tại Điều 7, Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu tính lãi, phí thẻ tín dụng đến ngày 30/9/2024 gồm: lãi trong hạn 14.335.907 đồng, phí phạt chậm trả 2.150.326 đồng, phí phạt vượt hạn mức 1.600.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Ngoài ra, kể từ ngày 01/10/2024 đến khi thi hành án xong ông Lê Hồng P còn phải tiếp tục trả phí phạt chậm trả là 3,5% một tháng và phí phạt vượt hạn mức là 0,075% một ngày.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án quy định: “Bị đơn phải chịu toàn bộ ản phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”.
Ngân hàng TMCP K được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP K 1.210.000 đồng (Một triệu hai trăm mười nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005875 ngày 15/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
Ông Lê Hồng P bị buộc trách nhiệm trả 32.120.921 đồng. Trong đó: nợ gốc là 14.034.688 đồng; lãi trong hạn là 14.335.907 đồng; phí phạt chậm trả là 2.150.326 đồng; phí phạt vượt hạn mức còn lại là 1.600.000 đồng) nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 803.000đ (T trăm lẻ ba nghìn đồng)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi, bổ sung 2017;
- - Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
- - Khoản 1 Điều 466; 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
- - Điều 7, Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K.
Buộc ông Lê Hồng P trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền là 32.120.921đ (Ba mươi hai triệu, một trăm hai mươi nghìn, chín trăm hai mươi mốt đồng). Trong đó: nợ gốc là 14.034.688đ (Mười bốn triệu không trăm ba mươi bốn nghìn sáu trăm tám mươi tám đồng); lãi trong hạn là 14.335.907đ (Mười bốn triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn chín trăm lẻ bảy đồng); phí phạt chậm trả là 2.150.326đ (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn ba trăm hai mươi sáu đồng); phí phạt vượt hạn mức là 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày 01/10/2024 đến khi thi hành án xong ông Lê Hồng P còn phải tiếp tục trả phí phạt chậm trả là 3,5% một tháng và phí phạt vượt hạn mức là 0,075% một ngày.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Hồng P phải chịu 803.000đ (Tám trăm lẻ ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền là 1.210.000đ (Một triệu, hai trăm mười nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0005875 ngày 15/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Võ Văn Hoà |
Bản án số 283/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 283/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
