TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 283/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15-5-2024 V/v “Ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thanh Dung;
- Ông Nguyễn Đình Rành.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh –Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Khang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 763/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Deymard H, M sinh năm 1943; Tạm trú: Số C C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt;
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc D sinh năm 1958; Thường trú: A L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: C14.03 Chung cư G, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 27/9/2023, tại bản tự khai, biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên Tòa, nguyên đơn ông Deymard H, M trình bày:
Ông và bà D qua thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2020, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn vào năm 2020 (Giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 03/07/2020 tại U, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vợ chồng sống hạnh phúc được 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn theo trình bày của ông H là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và thường hay cự cãi với nhau khiến cuộc sống giữa hai vợ chồng không còn hòa hợp như trước. Cả hai đã cố gắng ngồi lại nói chuyện nhưng vẫn kông thể hàn gắn tình cảm với nhau, hai bên không ai quan tâm đến ai, mỗi người tự lo cho cuộc sống của riêng mình. Cả hai sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay.
Ông xác định tình cảm không còn, không có khả năng đoàn tụ, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc D
- - Về con chung: Không có
- - Về tài sản chung: Không có
- - Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa hôm nay: Ông giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị được ly hôn với bà D vì bà D rất hay ghen tuông vô cớ, khi còn chưa kết hôn bà D thường không cho ông sử dụng điện thoại, không cho ông ra khỏi nhà vì khi đó ông có thời gian 06 tháng sống tại Việt Nam rồi lại 06 tháng qua Pháp sống. Bà D nói rằng nếu ông kết hôn với bà thì bà sẽ không ghen với ông nữa nhưng sau khi kết hôn bà còn kinh khủng hơn. Do vậy, ông không thể tiếp tục chung sống với bà D và ông cũng không còn tình cảm với bà. Chỉ mong tòa cho ly hôn để ông có cuộc sống bình yên hơn vì giờ ông đã xác định sẽ sống luôn tại Việt Nam.
Tại biên bản lấy lời khai, biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản hòa giải, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:
Bà và ông Deymard H, M qua thời gian tìm hiểu 12 năm thì tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2020, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn vào năm 2020 (Giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 03/07/2020 tại U, Thành phố Hồ Chí Minh).
Cả hai sống hạnh phúc từ khi tìm hiểu vào năm 2008 cho đến khi đăng ký kết hôn được 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà phát hiện ông Deymard H, M có quen người phụ nữ khác. Bà cố gắng khuyên răn ông Deymard H để ông quay với bà nhưng ông Deymard H vẫn không thay đổi. Cả hai đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, trong thời gian này cũng không ai quan tâm đến ai, mạnh ai nấy sống. Và cũng trong thời gian ly thân này bà vẫn cố gắng níu kéo bằng cách tìm đến chỗ khách sạn mà ông Deymard H ở để khuyên răn ông quay về nhưng vẫn không có kết quả.
Trước yêu cầu ly hôn của ông H bà không đồng ý vì theo bà thì bà vẫn còn tình cảm với ông Deymard H.
- Về tài sản chung: Bà xác nhận không có tài sản chung;
- Về nợ chung: Bà xác nhận không có.
Bà Nguyễn Thị Ngọc D đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn ông Deymard H, M yêu cầu khởi kiện ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D hiện đang trú tại địa chỉ số C chung cư G, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Đ a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về yêu cầu của các đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Deymard H, M yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc D.
Căn cứ bản trích lục kết hôn số 58, ngày 03/7/2020 của Ủy ban nhân dân Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh thì có đủ cơ sở để xác định ông Deymard H và bà D là vợ chồng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
Ông Deymard H, M và bà Nguyễn Thị Ngọc D tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2020 sau khi sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn ông Deymard H xác định là do vợ chồng xảy ra nhiều bất đồng về quan điểm sống và thường hay cự cãi với nhau khiến cuộc sống giữa hai vợ chồng không còn hòa hợp như trước, bà D hay ghen tuông vô cớ. bà D thì cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn là do ông Deymard H có người phụ nữ khác nên quay lưng với bà. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay thời gian này, không ai quan tâm đến ai, mỗi người tự lo cho cuộc sống của riêng mình. Mặc dù bà D cũng đã cố gắng nói chuyện và tìm đủ mọi cách khuyên nhủ ông Deymard H quay về nhưng vẫn không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Qua lời trình bày của các đương sự tại các bản tự khai và tại phiên toà cho thấy trong suốt thời gian thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tạo điều kiện cho ông Deymard H, bà D hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng dù bà D có cố gắng bao nhiêu thì ông Deymard H vẫn không thay đổi yêu cầu ly hôn với bà. Ông luôn khẳng định rằng mình không thể tiếp tục chung sống với bà D và quan trọng là ông không còn tình cảm với bà D, không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng cùng bà D. Bà D luôn nói rằng không đồng ý ly hôn nhưng lại không đưa ra được lý do để thuyết phục ông Deymard H và vẫn chấp nhận cuộc sống ly thân mỗi người ở một nơi như hiện tại vì bà cho rằng điều đó là bình thường. Mặc dù là vợ chồng nhưng cả bà D và ông Deymard H đều không quan tâm đến cuộc sống hay cảm xúc nhau, cứ mạnh ai nấy sống. Điều này thể hiện sự thiếu quan tâm đến việc xây dựng quan hệ hôn nhân bền vững.
Việc xây dựng hàn gắn tình cảm gia đình phải xuất phát từ hai phía, do quan hệ hôn nhân giữa ông Deymard H và bà D không còn yêu thương, chia sẻ với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân giữa ông Deymard H và bà D cũng chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không mang lại hạnh phúc cho nhau nên yêu cầu ly hôn của ông Deymard H là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
[2.2] Về con chung: Ông Deymard H và bà Nguyễn Thị Ngọc D không có con chung nên Hội đồng xét xử không xét
[2.3] Về tài sản chung: Ông Deymard H và bà D cùng xác định không có nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.4] Về nợ chung: Ông Deymard H và bà D cùng xác định không có nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí: Ông Deymard H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Quyền kháng cáo: Ông Deymard H và bà Nguyễn Thị Ngọc D có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 91, Điều 93, Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
Về hình thức: Xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D
Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Deymard Henri M1 và bà Nguyễn Thị Ngọc D (Giấy chứng nhận kết hôn số 58 do U, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/7/2020).
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: các đương sự không có.
- Án phí sơ thẩm: Ông Deymard Henri M1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0044463 ngày 27/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, ông Deymard Henri M1 đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: ông Deymard Henri M1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bà Nguyễn Thị Ngọc D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Trang |
Bản án số 283/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 283/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yc Nguyên đơn
