TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG Bản án số: 283/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 5 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Cao Trí.
- Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Khanh – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 221/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thu A, sinh năm 1987; cư trú tại: số nhà 16, tổ 01, ấp MT, xã MP, huyện CP, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1987; cư trú tại: số 16, tổ 01, ấp MT, xã MP, huyện CP, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 09/01/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà A và ông P do quen biết, tìm hiểu nên tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã MP vào ngày 24/3/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên thường xảy ra tranh cãi làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình, khi xảy ra tranh cãi ông P hay dùng vũ lực. Hiện bà và ông P đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà A yêu cầu ly hôn với ông P.
Về con chung: trong thời gian chung sống bà A với ông P có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 09/06/2015 và Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 23/06/2017, hiện 02 (hai) con chung đang sống với bà A. Khi ly hôn bà A yêu cầu được nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con.
- - Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác nhưng bị đơn ông Nguyễn Hoàng P vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt bà A có ý kiến vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu A, cho bà Nguyễn Thị Thu A ly hôn với ông Nguyễn Hoàng P.
Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung tên: Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 09/06/2015 và Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 23/06/2017 cho bà Nguyễn Thị Thu A trực tiếp nuôi dưỡng. Do bà A không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con chung nên không đề nghị xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị xem xét xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
- Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý giải quyết là đúng với quy định pháp luật.
- Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu A và bị đơn ông Nguyễn Hoàng P xác lập hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã MP theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 50/2015 ngày 24/3/2015. Do đó, hôn nhân giữa bà A và ông P là hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 9, Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Bà A yêu cầu được ly hôn với ông P, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên thường xảy ra tranh cãi làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình, hiện đã sống ly thân từ năm 2019.
- Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và phải có nghĩa vụ chung sống với nhau. Tuy nhiên, bà A và ông P đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình nên làm cho hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để ông P, bà A đoàn tụ nhưng ông P vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến. Qua đó, cho thấy ông P không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà A là có cơ sở nên chấp nhận.
- Về con chung: bà A và ông P có 02 (hai) con chung tên: Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 09/06/2015 và Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 23/06/2017, hiện bà A đang nuôi dưỡng 02 (hai) con chung. Khi ly hôn bà A yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, ông P không có ý kiến. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay 02 (hai) con chung do bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Hơn nữa, con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N có nguyện vọng được sống với bà A. Do đó, để ổn định về tâm lý cũng như ổn định về môi trường sống, điều kiện học tập, nơi ở và đảm bảo sự phát triển bình thường của các con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N và Nguyễn Thị Kim A cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng: do bà A không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông P không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
- Về án phí dân sự: bà A phải chịu 300.000đ án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông P không phải chịu án phí sơ thẩm.
- Xét các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9; Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Thu A được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng P.
- Về con chung: bà Nguyễn Thị Thu A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung tên: Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 09/06/2015 và Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 23/06/2017.
- + Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình của mình, không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- + Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng: bà Nguyễn Thị Thu A không yêu cầu ông Nguyễn Hoàng P cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự: bà Nguyễn Thị Thu A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005252 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: bà Nguyễn Thị Thu A và ông Nguyễn Hoàng P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Quang |
Bản án số 283/2024/HNGĐ-ST ngày 11/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 283/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn do mâu thuẫn trong hôn nhân
