|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 283/2023/HS-ST Ngày: 06.12.2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Bà Lê Thị Khanh
Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh B - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 241/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 273/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 203/2023/HSST-QĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Đăng X, sinh năm 1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: G ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn B1 (chết) và bà Nguyễn Thị Kim L; bị cáo chưa có vợ con; Nhân thân: Năm 2006 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 116/2006/HSST ngày 23/11/2006, Năm 2008: bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 32/2008/HSST ngày 08/5/2008, chấp hành xong ngày 11/5/2011; Tiền án: Năm 2012 bị Tòa án nhân dân quận 12, Tp. xử phạt 08 năm tù, về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 162/2012/HSST ngày 27/7/2012, chấp hành xong hình phạt ngày 06/02/2018, chưa đóng án phí; Tiền sự: không; bị cáo bị bắt từ ngày 16.3.2023 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện H; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1954 (có mặt)
Địa chỉ: 8 ấp F, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954 (vắng mặt)
Địa chỉ: 2 ấp C, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Ngọc H1, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Ông Huỳnh Tấn N, sinh năm 1992 (vắng mặt)
- Ông Võ Ngọc D, sinh năm 2001 (vắng mặt)
- Bà Lê Thị Mộng T, sinh năm 1994 (có mặt)
- Bà Phạm Thị Thu H2, sinh năm 1994 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1985 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1980 (có mặt)
- Em Phạm Ngọc N1, sinh ngày 20/10/2005 (có mặt)
Địa chỉ: 2 ấp C, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 8 ấp F, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: G ấp D, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: H ấp F, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 2 ấp C, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: E tổ A ấp A, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: H tổ A ấp F, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: H tổ A ấp F, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của em N1 là bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1980 Địa chỉ: H tổ A ấp F, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Kim T1 là con dâu của bà Nguyễn Thị G. Chồng của T1 đã mất 10 năm nên T1 có mối quan hệ tình cảm, sống như vợ chồng với Nguyễn Đăng X tại nhà của T1, số H tổ A ấp F, xã X, huyện H (kế bên nhà bà G). Do bà G cấm cản mối quan hệ giữa T1 và X nên hai bên nảy sinh mâu thuẫn với nhau.
Tối ngày 26/11/2022, X chở T1 đi tiệc về nhà T1 thì gặp gia đình bà G nên xảy ra cự cãi rồi dẫn đến việc hai bên đánh nhau. Bên nhóm nhà bà G gồm: bà G, Nguyễn Thị H (thông gia với bà G), Phạm Thị Ngọc H1 (con gái bà H), Huỳnh Tấn N (cháu bà G), Võ Ngọc D (bạn của N), Q và C1 (không rõ lai lịch); bên nhóm của X gồm: X, T1, Nguyễn Quang C (em trai T1). Cụ thể: khi thấy H1 và T1 nắm tóc nhau giằng co thì X chạy từ trong nhà của T1 lấy 01 con dao dài khoảng 35cm chạy ra đuổi chém Lê Thị Mộng T (cháu bà G) đang đứng gần đó nhưng T bỏ chạy nên X chém không trúng rồi quay lại dùng bản dao đập 01 cái vào đầu phía bên trái của bà G làm bà G té ngã xuống đường. Thấy vậy nên N liền nhặt cây tầm vông gần đó đánh X nhưng bị X vung dao chém nhưng N bỏ chạy nên X quay lại chém D nhưng D tránh né nên cũng không trúng. Bà H can ngăn thì bị X kéo ngã xuống đường rồi dùng cán dao đập vào đỉnh đầu của bà H gây thương tích. Lúc này, N dùng cây tầm vông cùng với D, Q và C1 khống chế
X đè xuống đất, tước con dao trong tay X. Nguyễn Quang C và Nguyễn Thị Kim T1 có hành vi dùng tay chân đánh Phạm Thị Ngọc H1 gây thương tích 04% và C dùng tay đánh vào mặt bà Nguyễn Thị H 01 cái, dùng cây gỗ đuổi đánh Huỳnh Tấn N nhưng không gây thương tích. Phạm Thị Ngọc H1 có hành vi dùng tay chân đánh Nguyễn Thị Kim T1 nhưng không gây ra thương tích đáng kể. Nguyễn Thị H có hành vi dùng bình xịt hơi cay xịt vào người C và T1 đồng thời dùng cây tầm vông đuổi đánh C, T1 nhưng không gây ra thương tích. Sau đó, cháu bà G là Phạm Thị Thu H2 đến Công an xã X trình báo vụ việc. Bà H và bà G có đơn yêu cầu xử lý người gây ra thương tích cho mình.
1/ Bản Kết quả giám định pháp y về thương tích số 64/TgT.23 ngày 15/02/2023 của Trung tâm P đối với Nguyễn Thị H như sau:
- - Vết thương phần mềm vùng đỉnh đầu đã được điều trị khâu vết thương, hiện còn một sẹo kích thước 7,3x0,15cm, ổn định. Có tỷ lệ 2%. Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh có thiết diện phù hợp với vết thương gây ra.
- - Đa chấn thương phần mềm gây sưng bầm mô mềm vùng cằm và gối trái đã được điều trị, hiện không còn vết thương tích, ổn định. Nghĩ nhiều do vật tày tác động gây ra.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 2%. Các chấn thương, vết thương trên không nguy hiểm đến tính mạng.
2/ Bản Kết quả giám định pháp y về thương tích số 18/TgT.23 ngày 30/01/2023 của Trung tâm P đối với Nguyễn Thị G như sau:
- - Chấn thương vùng chẩm gây sưng nề mô mềm, xuất huyết dưới nhện vùng trán – thái dương phải đã được điều trị, hiện không còn vết thương tích bên ngoài, không còn hình ảnh xuất huyết dưới nhện trên phim chụp cắt lớp vi tính, ổn định. Có tỷ lệ 8%. Thương tích do vật tày tác động hoặc phần cơ thể tác động vào vật tày gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.
- - Theo hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Đ vào viện ngày 26/11/2022, đương sự than đau vai phải, chụp phim Xquang ghi nhận hình ảnh trật khớp vai phải, không tổn thương phàn mềm vùng vai cánh tay phải. Bác sĩ chuyên Khoa chấn thương chỉnh hình khám không ghi nhận dấu vết thương tích bên ngoài. Ngoài ra, đương sự có bệnh sử “chấn thương vùng vai phải cách đây 7 năm, đã hạn chế vận động vai phải từ lâu. Nên bác sĩ chẩn đoán “Trật khớp vai phải cũ bảy năm”. Không đủ cơ sở xác định có chấn thương vùng vai phải hay không.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 8% (tám phần trăm).
Ngoài ra, tại Công văn số 18-GT/TgT.23 ngày 14/4/2023 của Trung tâm P giải thích thương tích của bà Nguyễn Thị G như sau:
- - Xuất huyết dưới nhện vùng thái dương là bên phải nhưng tình trạng sưng nề mô mềm là ở vùng chẩm bên trái.
- - Chấn thương trên do vật tày tác động vào vùng chẩm trái hoặc vùng chẩm trái va đập vào vật tày gây ra.
3/ Bản Kết quả giám định pháp y về thương tích số 227/TgT.23 ngày 10/4/2023 của Trung tâm P đối với Phạm Thị Ngọc H1 như sau:
- * Theo hồ sơ bệnh án Bệnh viện Đ1 nhập viện ngày 02/12/2022 và ngày 01/02/2023 kèm công văn trả lời từ Bệnh viện số 592/BVHM-KHTH:
- - Chấn thương vùng ngón 5 tay trái gây sưng bầm mô mềm, bong điểm bám tận gân duỗi đã được điều trị khâu cố định điểm bám gân, xuyên đinh cố định khớp, hiện còn:
- + Một vết mổ còn chỉ khâu kích thước 3,5x(0,05-0,15)cm
- + Một vết xuyên đinh
- + Hình ảnh đinh cố định khớp trên phim Xquang
- + Hình ảnh tụ dịch mô mềm, đứt không hoàn toàn gân duỗi và mất liên tục vỏ xương đốt giữa ngón 5 trên siêu âm khi giám định.
- + Cứng khớp liên đốt xa.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 04%. Thương tích trên do vật tày tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng. Không đủ cơ sở xác định có liên quan đến vụ việc ngày 26/11/2022 không do Hồ sơ bệnh án Bệnh viện đa khoa khu vực H nhập viện ngày 27/11/2022 chỉ ghi nhận chấn thương phần mềm vùng ngón 5 tay trái, không mổ thảm sát, chỉ điều trị nội khoa.
4/ Bản Kết quả giám định pháp y về thương tích số 281/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 05/5/2023 của Trung tâm P đối với Nguyễn Đăng X như sau:
- * Theo Hồ sơ bệnh án Bệnh viện Đ1 vào viện ngày 26/11/2022:
- - Đa chấn thương phần mềm đã được điều trị. Hiện còn:
- + Một sẹo vùng đuôi mày phải kích thước 1,8x0,1cm. có tỷ lệ 3%, thương tích do vật tày, tày có cạnh hoặc vật có cạnh tác động gây ra.
- + Một diện tăng giảm sắc tố vùng gò má phải kích thước 4,5x2,7cm. Có tỷ lệ 1%. Thương tích do vật tày nhám tác động hoặc phần cơ thể tác động vào vật tày nhám gây ra.
- + Một vết tăng sắc tố mặt trong khuỷa phải kích thước 2,5x1cm. Có tỷ lệ 01%. Thương tích do vật tày, tày nhám tác động gây ra.
- * Theo hồ sơ bệnh án đa khoa khu vực H vào viện ngày 29/11/2022. Ngoài các thương tích đã giám định ở trên còn ghi nhận thêm:
- - Đa chấn thương phần mềm gây sưng nề vùng chẫm, thái dương phải và ngực phải đã được điều trị, hiện không còn dấu vết thương tích.
- Các chấn thương trên nghĩ nhiều do vật tày tác động gây ra, không đủ cơ sở xác định có liên quan đến vụ việc ngày 25/11/2022 hay không.
- - Sưng ngón 1 tay phải đã được điều trị, hiện còn hình ảnh trên siêu âm mô mềm vào thời điểm giám định: Phù nề mô mềm kèm viêm hoạt mạc khớp. Trung tâm P không đủ cơ sở xác định tình trạng sưng ngón 1 trên là do chấn thương hay bệnh lý.
- * Theo phim chụp cắt lớp vi tính sọ não tại thời điểm giám định ghi nhận gãy sương mũi, lõm thành trong hốc mắt phải. Nhưng thời điểm nhập viện ngày 26/11/2022 đương sự không chụp phim về sọ não, tới ngày 29/11/2022 đương sự chỉ được chụp Xquang sọ thẳng nghiêng kết quả chưa phát hiện bất thường, không chụp phim cắt lớp vi tính sọ não. Trung tâm P không đủ cơ sở xác định
- tình trạng tổn thương trên phim chụp cắt lớp vi tính hiện tại có liên quan đến vụ việc ngày 26/11/2022 hay không.
Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đăng X tại thời điểm giám định là 5% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Tất cả các vết thương trên không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.
5/ Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 11/KLVGTT-TTPY.2023 ngày 10/4/2023 của Trung tâm P kết luận con dao mà Cơ quan điều tra thu giữ có gây ra được thương tích cho Nguyễn Thị H? Kết luận như sau:
- - Con dao là vật sắc, tày, cạnh thiết diện tròn.
- - Theo Bản kết luận số 64/TgT.23:
- + Vết thương vùng đỉnh đầu do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh có thiết diện phù hợp với vết thương gây ra.
- + Chấn thương phần mềm vùng cằm và gối trái nghĩ nhiều do vật tày tác động gây ra.
- - Căn cứ kết quả giám định vật gây ra thương tích được Cơ quan CSĐT Công an huyện H gửi đến, xác định con dao là vật có thể gây ra được thương tích của Nguyễn Thị H, sinh năm 1954.
6/ Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 13/KLVGTT-TTPY.2023 ngày 14/4/2023 của Trung tâm P kết luận con dao mà Cơ quan điều tra thu giữ có gây ra được thương tích cho Nguyễn Thị G? Kết luận như sau:
- - Con dao có phần tày ở cán dao, bản dao và sống dao.
- - Theo Bản kết luận số 18/TgT.23: Thương tích do vật tày tác động hoặc phần cơ thể tác động vào vật tày gây ra.
- - Căn cứ kết quả giám định vật gây ra thương tích được được Cơ quan CSĐT Công an huyện H gửi đến xác định phần tày của con dao là vật có thể gây ra được thương tích của Nguyễn Thị G, sinh năm 1954.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 con dao bằng kim loại màu đen, cán kim loại dài khoảng 35cm, bản 8cm, do Nguyễn Đăng X sử dụng nhằm thực hiện hành vi phạm tội.
- - 01 cây tầm vông dài khoảng 1,7m;
- - 01 khúc gỗ dài 1,2m; ngang 8cm, dày 2cm.
Về dân sự: bị hại H yêu cầu bồi thường số tiền 81.752.548 đồng; bị hại G yêu cầu bồi thường số tiền 135.913.618 đồng, tuy nhiên bị can chưa bồi thường.
Tại Bản cáo trạng số 163/CT-VKS-HM ngày 14 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Nguyễn Đăng X về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Đăng X phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng X từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại màu đen, cán kim loại dài khoảng 35cm, bản 8cm, do Nguyễn Đăng X sử dụng nhằm thực hiện hành vi phạm tội; 01 cây tầm vông dài khoảng 1,7m; 01 khúc gỗ dài 1,2m; ngang 8cm, dày 2cm.
Buộc bị cáo X bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị G và bị hại Nguyễn Thị H theo quy định pháp luật.
Bị hại Nguyễn Thị G yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tổng số tiền 135.913.618 đồng, bao gồm các khoản như sau:
- - Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng, bị giảm sút của người bị thiệt hại: 21.813.618 đồng, trong đó chi phí khám chữa bệnh là 20.013.618 đồng và chi phí thuê xe đi lại để khám chữa bệnh là 1.800.000 đồng.
- - Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị là 12 ngày (tính từ ngày 26/11/2022 đến ngày 07/12/2022, thu nhập của người chăm sóc 200.000 đồng/ngày): 2.400.000 đồng và chi phí sau khi ra viện vẫn cần người chăm sóc từ ngày 08/12/2022 đến ngày 13/6/2023) là 37.200.000 đồng.
- - Tiền tổn thất tinh thần: 74.500.000 đồng.
Bị hại Nguyễn Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tổng số tiền 81.752.548 đồng, bao gồm các khoản như sau:
- - Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng, bị giảm sút của người bị thiệt hại: 4.052.548 đồng, trong đó chi phí khám chữa bệnh là 3.052.548 đồng và chi phí thuê xe đi lại để khám chữa bệnh là 1.000.000 đồng.
- - Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị là 16 ngày (tính từ ngày 26/11/2022 đến ngày 02/12/2022 và từ ngày 05/12/2022 đến ngày 13/12/2022, thu nhập của người chăm sóc 200.000 đồng/ngày): 3.200.000 đồng .
- - Tiền tổn thất tinh thần: 74.500.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Đăng X khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo
không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đăng X khai nhận: Tối ngày 26/11/2022, tại trước nhà số S tổ A ấp F, xã X, huyện H, Nguyễn Đăng X đã dùng bản dao đập 01 cái vào đầu phía bên trái của bà G gây thương tích 08% và dùng cán dao đập vào đỉnh đầu của bà Nguyễn Thị H gây thương tích 02%.
Đối với hành vi của Nguyễn Quang C, Nguyễn Thị Kim T1, Phạm Thị Ngọc H1 và Nguyễn Thị H không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các vật chứng cùng các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Đăng X phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ Luật Hình Sự của N2.
[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác được Nhà nước và Pháp luật bảo hộ, đồng thời gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, tính chất mức độ và hậu quả của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[4] Về nhân thân bị cáo:
- Năm 2006 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 116/2006/HSST ngày 23/11/2006.
- Năm 2008: bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 32/2008/HSST ngày 08/5/2008, chấp hành xong ngày 11/5/2011.
- Tiền án:
- Năm 2012 bị Tòa án nhân dân quận 12, Tp. xử phạt 08 năm tù, về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 162/2012/HSST ngày 27/7/2012, chấp hành xong hình phạt ngày 06/02/2018, chưa đóng án phí.
- Tiền sự: không.
[5] Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
[6] Tình tiết tăng nặng:
Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 con dao bằng kim loại màu đen, cán kim loại dài khoảng 35cm, bản 8cm, do Nguyễn Đăng X sử dụng nhằm thực hiện hành vi phạm tội; 01 cây tầm vông dài khoảng 1,7m; 01 khúc gỗ dài 1,2m; ngang 8cm, dày 2cm dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, các bị hại và bị cáo không thỏa thuận được với nhau về phần dân sự trong vụ án, bị cáo X đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định của pháp luật.
- - Đối với yêu cầu của bị hại bà Nguyễn Thị G:
- - Đối với yêu cầu của bị hại bà Nguyễn Thị H:
Hội đồng xét xử xét thấy chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng, bị giảm sút của người bị thiệt hại: 21.813.618 đồng, trong đó chi phí khám chữa bệnh là 20.013.618 đồng và chi phí thuê xe đi lại để khám chữa bệnh là 1.800.000 đồng; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị là 12 ngày (tính từ ngày 26/11/2022 đến ngày 07/12/2022, thu nhập của người chăm sóc 200.000 đồng/ngày): 2.400.000 đồng là khoản chi phí hợp lý nên cần thiết buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại.
Chi phí sau khi ra viện vẫn cần người chăm sóc từ ngày 08/12/2022 đến ngày 13/6/2023) là 37.200.000 đồng không phải là chi phí hợp lý nên không có cơ sở chấp nhận.
Tiền tổn thất tinh thần: 74.500.000 đồng xét thấy không có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy việc bị hại G bị thiệt hại đến sức khỏe có thể sẽ gây tổn thất tinh thần cần thiết buộc bị cáo phải bù đắp tổn thất tinh thần là 17.880.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng, bị giảm sút của người bị thiệt hại: 4.052.548 đồng, trong đó chi phí khám chữa bệnh là 3.052.548 đồng và chi phí thuê xe đi lại để khám chữa bệnh là 1.000.000 đồng; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị là 16 ngày (tính từ ngày 26/11/2022 đến ngày 02/12/2022 và từ ngày 05/12/2022 đến ngày 13/12/2022, thu nhập của người chăm sóc 200.000 đồng/ngày): 3.200.000 đồng là khoản chi phí hợp lý nên cần thiết buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại.
Tiền tổn thất tinh thần: 74.500.000 đồng xét thấy không có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy việc bị hại H bị thiệt hại đến sức khỏe có thể sẽ gây tổn thất tinh thần cần thiết buộc bị cáo phải bù đắp tổn thất tinh thần là 17.880.000 đồng.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng X 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2023.
2. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại màu đen, cán kim loại dài khoảng 35cm, bản 8cm, do Nguyễn Đăng X sử dụng nhằm thực hiện hành vi phạm tội; 01 cây tầm vông dài khoảng 1,7m; 01 khúc gỗ dài 1,2m; ngang 8cm, dày 2cm.
3. Căn cứ vào Điều 590 Bộ luật dân sự
Buộc bị cáo X bồi thường cho bà Nguyễn Thị G tổng số tiền 42.093.618 (Bốn mươi hai triệu không trăm chín mươi ba nghìn sáu trăm mười tám) đồng. Thi hành khi án có hiệu lực pháp luật tại Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Buộc bị cáo X bồi thường cho bà Nguyễn Thị H tổng số tiền 25.132.548 (Hai mươi lăm triệu một trăm ba mươi hai nghìn năm trăm bốn mươi tám) đồng. Thi hành khi án có hiệu lực pháp luật tại Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị G đối với yêu cầu bồi thường chi phí sau khi ra viện vẫn cần người chăm sóc từ ngày 08/12/2022 đến ngày 13/6/2023) là 37.200.000 đồng, bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 74.500.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 74.500.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc khi có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Nguyễn Đăng X không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền như đã được ghi nhận trong quyết định này thì hàng tháng sẽ còn phải chịu thêm khoản tiền lãi được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
(Vật chứng của vụ án do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 130/QĐ-VKS-HS ngày 09/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn).
4. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.361.308 (Ba triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm lẻ tám) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại Gái có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hoa |
10
Bản án số 283/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 283/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
