|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 283/2025/HNGĐ-ST Ngày 25 - 3 - 2025 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thuý Ái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Dương;
- Ông Thái Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1329/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 118/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng A, sinh năm: 1982 (Có mặt).
Nơi thường trú: Số A Hồ V, tổ B, ấp P, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: Số 87/4 Nguyễn Thị S (đường số I cũ), ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Thanh L, sinh năm: 1982 (Có mặt).
Nơi thường trú: Số A Hồ V, tổ B, ấp P, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 28/10/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng A trình bày:
Bà và ông Đỗ Thanh L quen biết tìm hiểu nhau năm 2003, tự nguyện xây dựng gia đình, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, có tổ chức cưới.
Sau khi xây dựng gia đình xong, vợ chồng bà sống bên gia đình chồng, thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn, quá trình chung sống ông L bộc lộ tính gia trưởng, luôn muốn người khác phải nghe theo ý mình, không nghe góp ý của ai, bà bị ràng buộc, không thể tự quyết hay chia sẻ được với chồng, vì con cái nên bà đã cố gắng nhẫn nhịn nhiều năm nay, mâu thuẫn xảy ra trầm trọng vào khoảng đầu năm nay, nguyên nhân do bà đi làm nhưng ông L ghen tuông vô cớ, kích động con trai gây thương tích cho mẹ, thường xuyên gửi tin nhắn đầu độc con cái về mẹ của nó, bà cảm thấy rất mệt mỏi, áp lực, ông L dằn vặt tinh thần bà mỗi ngày, bà không thể nào chịu đựng được nữa, hơn nửa năm nay bà đã về nhà mẹ ruột sinh sống, bà cảm thấy mối quan hệ hôn nhân giữa bà và ông L không còn hạnh phúc, không thể hàn gắn, ông L không đồng ý, do vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn dứt khoát với ông L.
Bà và ông L có 02 con chung, 01 con chung đã thành niên tên Đỗ Thành Q, sinh ngày 09/5/2005 và 01 con chung chưa thành niên tên Đỗ Ngọc Kim N, sinh ngày 08/12/2010, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Tại các buổi hòa giải và làm việc của Tòa án, do bà muốn vụ án được giải quyết nhanh chóng nên bà đã khai không có tài sản chung, tại phiên tòa hôm nay ông L khai có tài sản chung bà không đồng ý nhưng bà không tranh chấp, bà và ông L không có nợ chung.
* Tại Bản tự khai ngày 25/12/2024 và trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn là ông Đỗ Thanh L trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Hồng A tự nguyện xây dựng gia đình năm 2003, có đăng ký kết hôn. Sau khi xây dựng gia đình, vợ chồng ông sống bên gia đình ông, vợ chồng sống rất hạnh phúc, khoảng vài tháng gần đây mới xảy ra mâu thuẫn nhưng cũng không lớn, nguyên nhân do ông sai, chưa thấu hiểu vợ, có ghen tuông với vợ, ông cũng không nghĩ những lời ông nói về vợ lại tác động đến con trai làm con trai bị kích động gây thương tích cho mẹ, ông vẫn còn thương vợ, mong muốn vợ chồng hàn gắn để các con có cha có mẹ, ông đề nghị Tòa án cho thêm thời gian để vợ chồng hàn gắn, ông không đồng ý ly hôn.
Về con chung vợ chồng ông có 02 con, ông không có ý kiến gì về con.
Tài sản chung lúc đầu ông khai không có nhưng tại phiên tòa hôm nay, ông xác định lại là có và vì vợ ông muốn ly hôn nên ông yêu cầu chia tài sản chung, riêng nợ chung vợ chồng ông không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 28/10/2024, bà Nguyễn Thị Hồng A yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà ly hôn với ông Đỗ Thanh L, con chung có 02 cháu, 01 cháu đã thành niên và 01 cháu chưa thành niên bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn là ông L cư trú tại số A Hồ V, tổ B, ấp P, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo Đ a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Hồng A và ông Đỗ Thanh L tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 114, quyển số 01, ngày 30/5/2003 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét trình bày của bà A thì bà và ông L tự nguyện xây dựng gia đình vào năm 2003, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông L gia trưởng, không tôn trọng vợ con, vợ chồng không có sự thông cảm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống, ông L còn ghen tuông vô cớ, hành hạ bà về tinh thần, kích động con trai gây thương tích cho bà, vì các con bà đã nhẫn nhịn, chịu đựng sống cùng ông L cho đến nay, nay bà nhận thấy tình cảm bà dành cho ông L không còn, không thể tiếp tục chung sống được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Phía ông L cũng nhận thấy nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng ông bà xuất phát từ phía ông, ông còn thương vợ nên không muốn ly hôn, Hội đồng xét xử xét trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã tạo điều kiện cho bà A và ông L có thêm thời gian để xem xét lại mối quan hệ vợ chồng của ông bà nhưng ở cả 03 lần hòa giải và tại phiên tòa, bà A đều cương quyết ly hôn với ông L. Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông L đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, ông L không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được phương án để vợ chồng đoàn tụ, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà A về việc yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chỉ giải quyết cho bà ly hôn với ông L.
[4] Về con chung:
Bà A và ông L có 02 con chung, 01 con chung đã thành niên tên Đỗ Thành Q, sinh ngày 09/5/2005 và 01 con chung chưa thành niên tên Đỗ Ngọc Kim N, sinh ngày 08/12/2010, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Xét cháu N chưa thành niên có nguyện vọng được sống cùng mẹ, để ổn định tâm sinh lý và đảm bảo quyền lợi của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu N cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà A về việc tạm thời không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp sau này bà A có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.
[5] Về tài sản chung:
Xét tại các buổi làm việc cũng như hòa giải tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, bà A và ông L xác định tài sản chung không có, tại phiên tòa, bà A và ông L xác định vợ chồng ông bà có tài sản chung, bà A không tranh chấp, ông L đề nghị chia tài sản chung. Hội đồng xét xử xét yêu cầu chia tài sản chung của ông L được đưa ra sau khi Tòa án nhân dân huyện Củ Chi ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, do vậy Hội đồng xét xử không xét yêu cầu này, trường hợp sau khi ly hôn, ông L có tranh chấp tài sản chung sau ly hôn sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.
[6] Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà A và ông L xác định không có.
[7] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà Nguyễn Thị Hồng A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 9, Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hồng A về việc cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Hồng A và ông Đỗ Thanh L.
Kể từ ngày Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 114, quyển số 01, ngày 30/5/2003 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà A và ông L không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung:
Bà Nguyễn Thị Hồng A và ông Đỗ Thanh L có 02 con chung, 01 con chung đã thành niên tên Đỗ Thành Q, sinh ngày 09/5/2005 và 01 con chung chưa thành niên tên Đỗ Ngọc Kim N, sinh ngày 08/12/2010.
Bà A yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu N.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà A về việc tạm thời không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Hồng A và ông Đỗ Thanh L tự thỏa thuận.
- Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị Hồng A và ông Đỗ Thanh L xác định không có.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà A đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0016659 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Bà A đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
- Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thúy Ai |
Bản án số 283/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 283/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
