Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 283/2024/HS-ST

Ngày: 18 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Minh Châu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Nam.

2. Ông Nguyễn Tùng.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lý Lê Trọng Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Huy Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 337/2024/TLST-HS ngày 26/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2679/2024/QĐXXST-HS ngày 20/5/2024 đối với bị cáo:

Lê Văn H;

giới tính: Nam; sinh năm 1977, tại thành phố H; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: đường K, phường S, quận T, thành phố H; trình độ văn hóa: 3/12; nghề nghiệp: chạy xe ôm; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn C1 và bà Phạm Thị C2; có vợ và có 01 con sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt, tạm giam từ ngày 16/4/2023; có mặt.

- Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Ngọc T - Văn phòng Luật sư HTH, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 50 phút ngày 16/4/2023, tổ công tác Công an huyện Bình Chánh tuần tra đến trước nhà số A, đường G, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Lê Văn H điều khiển xe gắn máy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện tại móc trên ba ga phía trước xe gắn máy có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 98,7623 gam loại Methamphetamine, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn H, không phát hiện thu giữ gì.

Tại cơ quan điều tra Lê Văn H khai nhận: Lê Văn H quen biết với người đàn ông tên V (không rõ lai lịch); V thuê Lê Văn H phụ giúp đi giao ma túy cho khách mua, mỗi lần giao xong V trả tiền công cho Lê Văn H từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, Lê Văn H đồng ý. Lê Văn H bắt đầu phụ giúp V đi giao ma túy từ tháng 12/2022, Lê Văn H đã đi giao ma túy cho V nhiều lần (không nhớ cụ thể) và hưởng tiền công được khoảng 12.000.000 đồng. Mỗi lần, khi có khách cần mua ma túy, V sẽ gọi điện thoại cho Lê Văn H đến địa chỉ đường T, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh gặp V để nhận trực tiếp ma túy và số điện thoại khách mua ma túy từ V để Lê Văn H liên lạc cho khách mua thống nhất địa điểm giao nhận ma túy. Theo yêu cầu của V, người mua ma túy sẽ trả tiền cho V hoặc cho Lê Văn H, nếu khách trả cho Lê Văn H thì Lê Văn H sẽ trừ tiền công ra rồi trả lại tiền cho V.

Vào khoảng 15 giờ ngày 16/4/2023, Lê Văn H đang ở nhà thì V điện thoại cho Lê Văn H qua địa chỉ đường T, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để nhận ma túy mang đi bán cho một người tên S rồi lấy tiền mang về cho V, Lê Văn H đồng ý. Sau đó, Lê Văn H điều khiển xe gắn máy đến nhận ma túy từ V 01 bịch nylon màu đen bên trong có chứa ma túy, treo lên móc trên baga phía trước xe máy, V đưa cho Lê Văn H số điện thoại của S để liên lạc giao nhận ma túy với S. Sau đó, Lê Văn H điều khiển xe đi đến trước nhà số A, đường G, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Đối với người đàn ông tên V: Lê Văn H khai chỗ ở của V tại số đường T, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng qua xác minh tại địa chỉ trên không có ai tên V cư trú, tiến hành thu thập bản ảnh những người sinh sống tại căn hộ số đường T, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho Lê Văn H nhận dạng Lê Văn H không nhận ra ai là người tên V. Do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh xử lý.

Tất cả ma túy thu giữ đã được trưng cầu giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 3769/KL-KTHS ngày 24/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản Cáo trạng số 246/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 23/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ quan điểm truy tố, xét bị cáo Lê Văn H có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 18 năm tù đến 19 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng;

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy bị thu giữ còn lại sau giám định; đối với các tang vật liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Văn H trình bày: Luật sư thống nhất về tội danh, điều khoản truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Lê Văn H là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đồng ý với quan điểm đánh giá của Viện kiểm sát về hành vi của bị cáo. Bị cáo làm theo chỉ đạo của đối tượng tên V và hưởng tiền công từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/1 lần bán ma túy. Về khối lượng ma túy đã được ngăn chặn kịp thời, chưa phát tán ra ngoài xã hội, hậu quả hạn chế. Bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, cha mẹ già, bệnh tật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo Lê Văn H mức án nhẹ hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát để bị cáo sớm trở về làm lại cuộc đời, xem xét không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo đồng ý với quan điểm bào chữa của Luật sư, không có ý kiến bào chữa bổ sung và không tham gia tranh luận.

Kiểm sát viên đối đáp: Luật sư bào chữa cho bị cáo chỉ đề nghị giảm hình phạt và miễn phạt tiền bổ sung nên Viện kiểm sát không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Luật sư và Kiểm sát viên bảo lưu ý kiến đã trình bày trước phiên tòa, không tranh luận bổ sung.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn H đã khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, bản kết luận giám định. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 16/4/2023, Công an huyện Bình Chánh tuần tra phát hiện Lê Văn H điều khiển xe gắn máy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, phát hiện tại móc trên ba ga phía trước xe gắn máy có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 98,7623 gam loại Methamphetamine nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

[3] Hành vi của bị cáo Lê Văn H là đặc biệt nghiệm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, gieo rắc tệ nạn ma túy, ảnh hưởng đến hoạt động phòng, chống tội phạm về ma túy và đây cũng là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội khác, tội phạm khác. Do đó, cần xử lý nghiêm minh bị cáo để giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo Lê Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với khối lượng ma túy 98,7623 gam loại Methamphetamine, thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Văn H về tội danh và điều luật như đã phân tích là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H thành khẩn khai báo, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy hưởng lợi, cần thiết áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự phạt tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách nhà nước, xét bị cáo có hoàn cảnh có khó khăn như đã nêu nên giảm mức phạt tiền bổ sung so với đề nghị của Viện kiểm sát.

Về số tiền thu lợi bất chính: Do chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo, ngoài ra không có tài liệu chứng cứ nào khác thể hiện số tiền thu lợi bất chính bị cáo thụ hưởng nên không buộc bị cáo nộp lại để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Từ các phân tích nêu trên là quan điểm của Hội đồng xét xử xét đối với các ý kiến tranh luận, đối đáp của Luật sư bào chữa cho bị cáo và của Kiểm sát viên.

[5] Xử lý vật chứng:

- Đối với: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 861/23, có chữ ký ghi tên Giám định viên Bùi Công Danh, Điều tra viên Phan Đức Hòa, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 bịch nylon màu đen. Xét đây là vật cấm lưu hành, có liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Realme và 01 xe gắn máy biển số: 51U7-0067, số khung: VLKPCG012LK00806542, số máy: VHLFM152FMHV00212720; xét đây là vật chứng bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 17 (mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2023.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn H 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 861/23, có chữ ký ghi tên Giám định viên Bùi Công Danh, Điều tra viên Phan Đức Hòa, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 bịch nylon màu đen;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: không xác định; dung tích xi lanh: không xác định; biển số: 51U7-0067, số khung (ghi theo số cà): VLKPCG012LK00806542, số máy (ghi theo số cà): VHLFM152FMHV00212720 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/354 ngày 27/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - Phòng PV06 - Công an TP.HCM; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Cục THA Dân sự TP.HCM; (1)
  • - THA Hình sự; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (21) (9)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 283/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội "mua bán trái phép chất ma tuý"

  • Số bản án: 283/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger