Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 283/2024/HS-ST

Ngày: 10 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Lan.

Bà Trần Thị Hồng Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 285/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Vũ Quốc C, sinh năm 1999, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Số A, tổ H, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: 12/12; con ông Vũ Sơn H, sinh năm 1969 và bà Trần Thị Minh T, sinh năm 1969; bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 03 anh, chị, em; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH một thành viên C1 – Chi nhánh B; địa chỉ: Số A đường Đ, tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Viết Q, sinh năm 1993, địa chỉ liên lạc: Số A đường Đ, tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/5/2023, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên C1 (gọi tắt là Công ty C1) chi nhánh B, địa chỉ: Số A, đường Đ, tổ E, khu phố H, phường L, TP ., Đồng Nai và Vũ Quốc C ký hợp đồng số 132147/2003. Theo đó, C được giao nhiệm vụ là nhân viên giao nhận hàng của Công ty C1 chi nhánh B. Hằng ngày, C nhận hàng từ nhân viên điều phối, sau đó liên hệ với khách hàng để giao hàng và thu tiền, sau đó đến 10 giờ sáng ngày hôm sau sẽ nộp lại cho Công ty.

Ngày 06/8/2023, C được nhân viên điều phối của Công ty giao 34 đơn hàng với tổng số tiền hàng là 43.177.296đ (Bốn mươi ba triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng). Trong cùng ngày, C đã giao thành công 34 đơn hàng, thu về số tiền 43.177.296đ (Bốn mươi ba triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng). Tuy nhiên, lợi dụng sơ hở trong quản lý của Công ty C1 chi nhánh B. C thực hiện thao tác trên phần mềm ứng dụng quản lý giao nhận của công ty, khai báo giao thành công 23 đơn hàng trị giá 18.375.296₫ (Mười tám triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng). Còn 11 đơn hàng trị giá 24.802.000đ (Hai mươi bốn triệu, tám trăm linh hai nghìn đồng) đã giao thành công, nhưng C khai báo chưa giao được, chờ giao sau để treo trên hệ thống, rồi chiếm đoạt số tiền 43.177.296đ (Bốn mươi ba triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng) và tiêu xài cá nhân hết. Sáng ngày 07/08/2023, khi C đến Công ty thì bị phát hiện. Quá trình làm việc với Công ty, C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nên Công ty đã cho C nghỉ việc. C cam kết sẽ nộp lại số tiền chiếm đoạt của Công ty trước ngày 19/8/2023, nhưng không nộp nên Công ty đã trình báo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo quy định.

Vật chứng vụ án gồm: Số tiền 43.177.296đ (Bốn mươi ba triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng) Vũ Quốc C thu tiền hàng từ khách nhưng không giao nộp lại cho Công ty, C đã tiêu xài hết.

Về dân sự: Công ty C1 chi nhánh B đã nhận được bồi thường của Vũ Quốc C, số tiền 43.177.296đ (Bốn mươi ba triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng) và không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường thiệt hại.

Tại Cáo trạng số 280/CT-VKS-BH ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Vũ Quốc C về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

- Về trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Vũ Quốc C phạm tội “Tham ô tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Bị hại Công ty TNHH một thành viên C1 – Chi nhánh B vắng mặt và không có yêu cầu gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Vũ Quốc C là nhân viên giao hàng được Công ty C1 chi nhánh B (địa chỉ: số A, đường Đ, tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) giao nhiệm vụ giao hàng và thu tiền của khách hàng, sau đó giao nộp số tiền đã thu của khách về Công ty vào sáng ngày hôm sau. C đã lợi dụng sơ hở trong quy trình quản lý đối với hàng hóa chưa giao được cho khách và quy định về thời gian giao tiền đã thu từ khách hàng của Công ty C1 chi nhánh B. Vào ngày 06/8/2023, C được nhân viên điều phối của Công ty giao 34 đơn hàng với tổng số tiền hàng là 43.177.296đ (Bốn mươi ba triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng). Sau khi giao thành công 34 đơn hàng và thu được tiền hàng, C không nộp về Công ty mà chiếm đoạt số tiền 43.177.296đ (Bốn mươi ba triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng).

Với hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Vũ Quốc C phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của tổ chức, quyền sở hữu về tài sản của tổ chức. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có cha đang bị bệnh (có xác nhận của UBND phường T, thành phố B). Do đó, cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Vũ Quốc C phạm tội “Tham ô tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Vũ Quốc C 02 (hai) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải thi hành án phạt tù.

2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; (1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa; (2)
  • - Cơ quan điều tra Công an TP. Biên Hòa; (1)
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa; (1)
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đồng Nai; (1)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; (1)
  • - Bị cáo, bị hại; (2)
  • - Thi hành án hình sự; (5)
  • - Lưu hồ sơ, VP. (2)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 283/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tham ô tài sản)

  • Số bản án: 283/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Quốc C phạm tội tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger