|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 283/2024/HS-ST
Ngày 07-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Vũ Văn Khang
Bà Hà Thị Mão
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy – Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quảng Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 268/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 668/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 737/TB-TA ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1995 tại Ninh Bình. Nơi thường trú: Xóm C, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi ở: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Minh N và bà Trần Thị L; có vợ là chị Sầm Thị N1 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Tại Bản án số 108/2022/HS-ST ngày 29/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 18/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 21/6/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 18/6/2024, Phạm Văn T đi bộ vào trong khu vực đường tàu Trần Nguyên H, Hải Phòng để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp và hỏi mua của 01 người đàn ông không quen biết 200.000 đồng ma túy Heroine. Người này đồng ý, điều khiển xe mô tô chở T đến khu vực ngõ A đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng thì dừng xe, nhận 200.000 đồng của T rồi đưa lại cho T 02 gói ma túy Heroine. T cầm gói ma túy trong bàn tay phải đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực ngõ A đường L thì bị Công an phường M phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên tay phải của T 01 túi nilon kích thước khoảng 5x5cm bên trong có 02 gói nilon kích thước mỗi gói khoảng 1x2cm bên trong đều chứa chất bột màu trắng và 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu đồng gắn sim số 0968.876.087.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Phạm Văn T ngày 18/6/2024 dương tính với test thử chất ma túy M, H1.
Tại Kết luận giám định số 788/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1 gam, là loại Heroine.
Tại Cáo trạng số 265/CT-VKSNQ ngày 03 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 21 tháng đến 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 788MT/PC09 bên trong chứa 0,03 gam chất bột Heroine cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định. Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu đồng gắn sim số 0968.876.087.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập vào hồi 10 giờ 35 phút ngày 18/6/2024, phù hợp với nội dung kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày18/6/2024, tại khu vực đầu ngõ A đường L, quận N, thành phố Hải Phòng, bị cáo Phạm Văn T đã có hành vi cất giấu bất hợp pháp 0,1 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án năm 2022 chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên căn cứ Điều 53 Bộ luật Hình sự, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các loại tội phạm nên hình phạt đối với tội phạm ma túy cần phải nghiêm khắc mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo nghề nghiệp không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[7] Số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi giám định còn lại, liên quan đến tội phạm, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Đối với 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu đồng gắn sim số 0968.876.087 qua kiểm tra không phát hiện tài liệu, chứng cứ có nội dung liên quan đến vụ án nên căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần trả lại cho bị cáo.
- Về án phí:
[9] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Những vấn đề khác:
[10] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, đến nay chưa xác định được căn cước lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 6 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 788MT/PC09 bên trong chứa 0,03 gam chất bột Heroine cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu đồng gắn sim số 0968.876.087.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/10/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Phạm Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hồng Phương |
Bản án số 283/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 283/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép
