Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 283/2024/DS-PT

Ngày: 02/7/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Dung
  • - Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Bình
  • Bà Hà Thị Phương Thanh
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ – Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2024/QĐXXPT-DS ngày 08 tháng 6 năm 2024.

Do Bản án số 59/2024/DSST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử sơ thẩm có kháng cáo, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1982.
  • Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Ngân K, sinh năm 1995 (Yêu cầu xét xử vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số F, đường số C, khu dân cư H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Theo văn bản ủy quyền ngày 13/11/2023).
  • * Bị đơn: Ngân hàng TMCP S
  • Trụ sở: Số A, đường N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Quang T1 – Tổng giám đốc
  • Người đại diện theo ủy quyền:
  • Ông Nguyễn Long P – Giám đốc S1 (vắng mặt).
  • Bà Lê Thị Thanh L – Giám đốc phòng Dịch vụ khách hàng – C (có mặt) – văn bản ủy quyền ngày 01/7/2024.
  • Địa chỉ chi nhánh C1: Số B, đường C phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Bị đơn Ngân hàng TMCP S

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  • * Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn bà Lê Ngân K trình bày:

Ông Huỳnh Minh T có mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP S chi nhánh C1 và được cấp thẻ số 4895XXXXXX5073, số tài khoản là 800000616304 với hạn mức thẻ tín dụng là 100.000.000 đồng, ngày mở thẻ là 28/8/2018. Quá trình sử dụng thẻ, ông T đã sử dụng số tiền là 183.860.430 đồng (các giao dịch phát sinh từ thanh toán tiêu dùng trong thời gian kể từ ngày 09/09/2018 đến ngày 15/07/2019, sau thời điểm này ông T không phát sinh giao dịch thanh toán) và đã thanh toán được số tiền tổng cộng là 107.213.182 đồng. Đến tháng 3/2020 do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khóa thẻ và chuyển toàn bộ nợ của ông T sang nợ quá hạn.

Khi ông Huỳnh Minh T liên hệ thanh toán khoản tiền nợ tín dụng thì được Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh C1 thông báo dư nợ đến ngày 09/11/2023 là 1.319.155.616 đồng. Ông T có đề nghị Ngân hàng cung cấp cách tính lãi, số tiền gốc, tiền lãi cụ thể là bao nhiêu nhưng chưa nhận được phản hồi. Tuy nhiên, dựa trên số nợ lãi phải thanh toán cho thấy Ngân hàng tính lãi nhập vào gốc tháng trước rồi tính thành nợ gốc của tháng tiếp theo là lãi chồng lãi, chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T.

Nguyên đơn cho rằng chỉ còn nợ Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C1 số tiền nợ gốc 76.647.248 đồng và tiền lãi tính đến ngày 26/12/2023 với mức lãi suất 20% với số tiền 60.614.483 đồng.

Vì vậy, ông Huỳnh Minh T khởi kiện yêu cầu Tòa án:

  • + Hủy thông báo số 181/TB-SCB CẦN THƠ.23.00 ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C1.
  • + Buộc Ngân hàng TMCP S tính lại tiền nợ gốc và tiền lãi theo quy định pháp luật đối với khoản nợ thẻ tín dụng của ông Huỳnh Minh T.
  • * Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của Bị đơn ông Nguyễn Long P trình bày:

Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, bởi các lý do sau:

  • + Thông báo số 181/TB-SCB CẦN THƠ.23.00 ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C1 là thông báo khách hàng Huỳnh Minh T về việc thanh toán khoản nợ thẻ bị quá hạn. Các thông tin tại Thông báo số 181 được Ngân hàng gửi đến ông T là căn cứ theo đúng các nội dung, tài liệu, hợp đồng đã giao kết giữa Ngân hàng với ông T và theo quy trình, quy định của Ngân hàng TMCP S và pháp luật.
  • + Việc tính nợ gốc, lãi, phí thẻ tín dụng của khách hàng là tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Ông Huỳnh Minh T đã đồng ý các điều kiện, điều khoản phát hành thẻ và quy định tính lãi, phí của Ngân hàng TMCP S khi tham gia mở thẻ. Do đó, khoản nợ thẻ của ông Huỳnh Minh T sẽ được Ngân hàng tiếp tục tính lãi, phí cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ thanh toán dư nợ.
  • + Hiện nay, Ngân hàng TMCP S đang được Ngân hàng N kiểm soát đặc biệt nên chưa có cơ chế, chủ trương xem xét miễn, giảm lãi, phí theo yêu cầu của ông Huỳnh Minh T (nếu có).

Tại phiên tòa sơ thẩm;

  • - Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn bà Lê Ngân K trình bày: Ông Huỳnh Minh T có mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP S chi nhánh C1 và được cấp thẻ số 4895XXXXXX5073, số tài khoản là 800000616304 ngày 18/8/2018, hạn mức 100.000.000 đồng. Tính đến thời điểm hiện tại các khoản nợ gốc và lãi của ông Huỳnh Minh T được xác định như sau:
  • + Về nợ gốc: Trong quá trình sử dụng thẻ, ông T có sử dụng số tiền 183.860.430 đồng và đã thanh toán được tổng số tiền là 107.213.182 đồng nên chỉ còn nợ lại số tiền 76.647.248 đồng.
  • + Về tiền lãi: Do phía ngân hàng không cung cấp được bất kỳ hợp đồng hay văn bản nào thể hiện được lãi suất mà hai bên thỏa thuận khi giao kết. Đồng thời, ông Huỳnh Minh T là người tiêu dùng trong giao dịch với Ngân hàng nên phải áp dụng quy định về mức trần lãi suất trong Bộ luật Dân sự như sau: Mức lãi suất trong hạn là 20%/năm tương đương 1.67%/tháng, 0.0548%/ngày (tính từ ngày 16/07/2019 đến ngày 11/03/2020, thời gian chậm trả là 239 ngày), quá hạn là 150% lãi suất trong hạn (tính từ ngày 12/03/2020 đến ngày 11/03/2024, thời gian chậm trả là 4 năm).

Ông T đồng ý thanh toán số tiền lãi cho Ngân hàng là 106.030.798 đồng (Trong đó, lãi trong hạn 10.038.643 đồng, lãi quá hạn 91.976.697 đồng và lãi chậm trả lãi trong hạn là 4.015.457 đồng). Ngoài ra, đến thời điểm hiện tại ông T đồng ý thanh toán thêm các khoản với tổng số tiền là 18.327.308 đồng, gồm có phí thường niên 1.897.500 đồng, phí vượt hạn mức 2.377.112 đồng và phí chậm thanh toán là 14.052.696 đồng.

Do đây là các khoản phí và phạt do hành vi sử dụng vượt hạn mức và chậm thanh toán đã bị Ngân hàng tính lãi nên ông T không đồng ý trả lãi phát sinh đối với các khoản nêu trên, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11 tháng 1 năm 2019 thì một hành vi trả nợ không đúng hạn của bên vay về nguyên tắc chỉ bị xử lý một lần. Vì vậy, việc Ngân hàng cộng gốc và lãi, phí, phạt của tháng trước nhập vào nợ gốc của tháng sau là lãi chồng lãi, trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, tuyên xử:

  • + Hủy Thông báo số 181/TB-SCB CẦN THƠ.23.00 ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C1.
  • + Ông Huỳnh Minh T đồng ý thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 201.005.354 đồng (Trong đó, nợ gốc là 76.647.248 đồng, nợ lãi là 106.030.798 đồng, nợ phí 18.327.308 đồng) để tất toán khoản nợ của thẻ tín dụng.

Tại phiên tòa ngày 14/3/2024, bà Lê Ngân K đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thời hiệu đối với phần nợ lãi, các khoản phí đối với nợ thẻ tín dụng của ông Huỳnh Minh T. Trường hợp, không áp dụng thời hiệu thì đề nghị ghi nhận tự nguyện thanh toán nợ gốc, nợ lãi của ông Huỳnh Minh T đối với Ngân hàng TMCP S sau khi đã được tính lại theo đúng quy định của pháp luật.

  • - Đại diện theo ủy quyền của Bị đơn ông Nguyễn Long P trình bày: Ông Huỳnh Minh T có phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S với các nội dung, điều kiện, điều khoản sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm cách tính phí, lãi, phí thanh toán trễ hạn...) theo đúng quy định của Ngân hàng và pháp luật. Thông tin thẻ tín dụng khách hàng như sau: Huỳnh Minh T (CIF: 1081388), tài khoản thẻ 800000616304; số thẻ 4895 XXXX XXXX 5073, hạn mức 100.000.000 đồng, ngày phát hành thẻ 28/8/2018, ngày kích hoạt thẻ 07/9/2018.

Kể từ kỳ thanh toán tháng 9/2019, ông T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán dư nợ thẻ theo đúng quy định của Ngân hàng dẫn đến việc phát sinh nợ thẻ quá hạn, phí thanh toán trễ hạn theo quy định tại hợp đồng và quy định của pháp luật. Ngày bắt đầu quá hạn là ngày 11/9/2019, tạm tính đến ngày 15/02/2024 là quá hạn 1.609 ngày với tổng dư nợ là: 1.631.623.204 đồng. Trong đó: Dư nợ mua hàng hóa/dịch vụ chưa thanh toán: 96.902.613 đồng; Lãi: 468.241.499 đồng; Phí: 1.006.479.092 đồng. Các loại phí cụ thể như sau:

  • + Phí thanh toán trễ hạn: 4% số tiền thanh toán tối thiểu còn lại, tối thiểu 80.000 đồng với số tiền 1.064.170.890 đồng.
  • + Phí vượt hạn mức thẻ: 3% số tiền vượt hạn mức, tối thiểu 50.000 đồng/lần/kỳ với số tiền là 1.319.172 đồng (đã bao gồm VAT).
  • + Các loại phí khác phát sinh trong quá trình giao dịch thẻ (phí thường niên) là 989.030 đồng (đã bao gồm 10% VAT).

Ngoài ra, các khoản lãi, phí phát sinh từ dư nợ thẻ tín dụng của ông Huỳnh Minh T được Ngân hàng áp dụng như trên là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 5 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc Ngân hàng N.

Đối với yêu cầu áp dụng thời hiệu của Nguyên đơn đề nghị Tòa không chấp nhận vì Ngân hàng TMCP S không có yêu cầu khởi kiện hay yêu cầu phản tố trong vụ án. Đồng thời, trước khi khởi kiện giữa Ngân hàng với ông T đã có những buổi làm việc, trao đổi, khi đó ông T đều thừa nhận đang có các khoản nợ thẻ tín dụng và nguyên nhân phát sinh dư nợ thẻ là do phía ông T không thanh toán đủ số tiền nợ (được thể hiện tại Đơn đề nghị miễn giảm lãi).

Tại Bản án số 59/2024/DSST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Huỳnh Minh T.

Hủy Thông báo về việc thanh toán khoản nợ quá hạn số: 181/TB-SCB CẦN THƠ.23.00 ngày 09/11/2023 của Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C1.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Huỳnh Minh T đồng ý thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ Thẻ tín dụng ghi nợ tạm tính đến ngày 18/3/2024 là 218.918.726 đồng (Hai trăm mười tám triệu, chín trăm mười tám nghìn, bảy trăm hai mươi sáu đồng). Trong đó, nợ gốc là 96.902.613 đồng, nợ lãi là 115.831.807 đồng, nợ phí là 6.184.306 đồng. Ông Huỳnh Minh T tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất được quy định trong Thông báo của Ngân hàng TMCP S đối với thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo qui định.

Ngày 01/4/2024 Ngân hàng có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyên đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu. Bị đơn kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của Viện kiểm sát:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Trên cơ sở xem xét tài liệu chứng cứ cho thấy Bản án sơ thẩm xử là có căn cứ. Ngân hàng kháng cáo không cung cấp được tài liệu mới nên không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông Huỳnh Minh T khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo thu hồi nợ của Ngân hàng TMCP S và yêu cầu Bị đơn tính nợ gốc, nợ lãi đối với khoản nợ Thẻ tín dụng theo đúng quy định của pháp luật. Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, Bị đơn có trụ sở tại quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với nợ lãi, phí, phạt trong khoản nợ tín dụng của ông T. Xét nợ Thẻ tín dụng của ông T quá hạn vào ngày 11/9/2019 đến ngày nộp khởi kiện 05/12/2023 là đã hết thời hiệu khởi kiện 03 năm. Tuy nhiên, tại đơn đề nghị miễn giảm lãi ngày 25/12/2023 ông Huỳnh Minh T gửi Ngân hàng với nội dung xác nhận khoản nợ tín dụng và đề nghị Ngân hàng miễn tiền lãi, chấp nhận cho ông thanh toán số tiền 264.132.468 đồng (Trong đó, nợ gốc 94.974.556 đồng, nợ lãi trong hạn 24.385.693 đồng và nợ lãi quá hạn 144.771.218,98 đồng).

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trường hợp bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự khi “Bên có nghĩa vụ thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện”. Như vậy, trường hợp này thì thời hiệu khởi kiện đã được bắt đầu lại nên yêu cầu áp dụng thời hiệu của Nguyên đơn là không phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện ủy quyền của Nguyên đơn xin vắng mặt, nên áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt theo qui định.

  1. Về nội dung kháng cáo của Ngân hàng đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Xét yêu cầu này của Ngân hàng Đ với việc xét nội dung vụ án thể hiện qua phân tích các vấn đề cụ thể dưới đây.
  1. Đối với Hợp đồng mở Thẻ tín dụng giữa ông Huỳnh Minh T với Ngân hàng TMCP S.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn cho rằng vào năm 2018 ông T có mở Thẻ tín dụng ghi nợ với số tiền 100.000.000 đồng bằng hình thức trực tuyến. Ngược lại, phía Bị đơn trình bày ông T mở Thẻ tín dụng bằng hình thức trực tiếp, có ký giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ nhưng do công tác lưu trữ không đảm bảo dẫn đến hồ sơ bị thất lạc. Xét thấy, mặc dù Bị đơn không cung cấp được Hợp đồng mở Thẻ tín dụng nhưng giữa Nguyên đơn và Bị đơn đều xác định ông T có mở Thẻ tín dụng ghi nợ số tiền 100.000.000 đồng, ngày mở thẻ là 28/8/2018 nên được xác định là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  1. Về tiền nợ gốc Thẻ tín dụng của ông Huỳnh Minh T đối với Ngân hàng TMCP S.

Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng ông T đã sử dụng dịch vụ thanh toán ghi nợ với tổng số tiền là 183.860.430 đồng và đã trả cho Ngân hàng được tổng số tiền 107.213.182 đồng. Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn cho rằng ông T còn nợ lại số tiền nợ gốc là 76.647.248 đồng (183.860.430 đồng - 107.213.182 đồng), ngược lại Bị đơn cho rằng nợ gốc (dư nợ mua hàng hóa, dịch vụ) chưa thanh toán là 96.902.613 đồng.

Xét việc Nguyên đơn lấy tổng số tiền ghi nợ trừ đi tổng số tiền đã trả còn lại tiền nợ gốc là chưa phù hợp. Bởi vì từ ngày bắt đầu sử dụng Thẻ tín dụng 09/9/2018 đến ngày Thẻ tín dụng bị khóa 20/3/2020 ông T đã rất nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên số tiền Nguyên đơn chuyển vào tài khoản để trả nợ còn phải thanh toán các khoản tiền lãi, phí, phạt. Do đó, việc Ngân hàng xác định tổng số tiền nợ gốc của ông T 96.902.613 đồng là có cơ sở.

  1. Về tiền nợ lãi, nợ phí Thẻ tín dụng của ông Huỳnh Minh T đối với Ngân hàng TMCP S.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn cho rằng do Bị đơn không cung cấp được Hợp đồng mở Thẻ tín dụng nên yêu cầu Tòa tính lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Xét do tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp Hợp đồng tín dụng nên phải chịu sự điều chỉnh của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và các văn bản hướng dẫn nên việc Nguyên đơn yêu cầu áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự để tính lãi suất là không phù hợp. Hơn nữa, việc mở Thẻ tín dụng của ông T là theo mẫu có sẵn được áp dụng chung cho toàn bộ hệ thống của Ngân hàng TMCP S nên việc tính lãi, phí là theo quy định của Ngân hàng.

Tuy nhiên, việc Ngân hàng TMCP S xác định từ ngày bắt đầu quá hạn 11/9/2019 tạm tính đến ngày 15/02/2024 tổng tiền lãi 468.241.499 đồng và tiền phí 1.066.479.092 đồng là chưa phù hợp. Bởi các lẽ sau:

  • - Đại diện theo ủy quyền của Bị đơn trình bày tổng số tiền lãi 468.241.499 đồng chỉ thu bằng với lãi suất trong hạn là 24%/năm; 26%/năm và 30%/năm theo Thông báo điều chỉnh lãi suất từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP S (không tính lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn). Nhận thấy hồ sơ thể hiện:
  • + Theo Thông báo số 452/TB-TGĐ.17 ngày 08/12/2017 (thời gian áp dụng từ ngày 11/12/2017) lãi suất 24%/năm, tính từ ngày 11/9/2019 đến ngày 15/6/2020 quá hạn 278 ngày: 96.902.613 đồng x 24%/năm x 278 ngày = 17.713.266 đồng.
  • + Theo Thông báo số 6071/TB-TGĐ.20.00 ngày 06/5/2020 (thời gian áp dụng từ ngày 16/6/2020) lãi suất 26%/năm, tính từ ngày 16/6/2020 đến ngày 25/4/2023 quá hạn 1.043 ngày: 96.902.613 đồng x 26%/năm x 1.043 ngày = 71.994.659 đồng.
  • + Theo Thông báo số 1126/TB-TGĐ.23.00 ngày 18/4/2023 (thời gian áp dụng từ ngày 26/4/2023) lãi suất 30%/năm, tính từ ngày 26/4/2023 đến ngày 15/02/2024 quá hạn 296 ngày: 96.902.613 đồng x 30%/năm x 296 ngày = 23.575.211 đồng.

Như vậy, tổng số tiền lãi theo Thông báo điều chỉnh lãi của Ngân hàng từ ngày 11/9/2019 đến ngày 15/02/2024 là 113.283.136 đồng chứ không phải 468.241.499 đồng. Nếu tổng tiền lãi 468.241.499 đồng thì bằng 483% tiền vốn gốc, tương đương 100%/năm. Tại phiên tòa ngày 18/3/2024, Bị đơn cung cấp lại Bảng tính lãi chi tiết theo đó nợ lãi được tính trên tổng của dư nợ gốc và nợ phí chưa thanh toán. Xét việc Ngân hàng tính lãi trên nợ gốc và nợ phí là không hợp lý, bởi vì không có bất kỳ quy định của pháp luật nào cho phép được tính lãi trên nợ phí.

  • - Ngoài ra, việc Ngân hàng tính tổng số tiền phí trễ hạn 1.066.479.092 đồng cũng chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Vì khi chuyển nợ quá hạn thì hàng tháng Ngân hàng tính 4%/tháng phí trễ hạn trên tổng số tiền chưa thanh toán. Điều này có nghĩa là số tiền gốc để tính phí trễ hạn bao gồm nợ gốc, lãi, phí trễ hạn, phí vượt hạn mức và các khoản phí khác của những tháng chưa thanh toán nhân với 4% thành số tiền phí trễ hạn phải trả hàng tháng và số tiền này tiếp tục được nhập vào tiền gốc để tính phí thanh toán trễ hạn của tháng sau (Phí chồng phí). Với tổng tiền phí trễ hạn từ ngày 11/9/2019 đến ngày 15/02/2024 là 1.066.479.092 đồng bằng 1.100% tiền vốn gốc, tương đương 259%/năm là không có căn cứ.
  • - Hơn nữa, với tổng số tiền nợ lãi, phí Ngân hàng yêu cầu ông T thanh toán từ ngày 11/9/2019 đến ngày 15/02/2024 là 1.534.720.591 đồng bằng 1.583,77% tiền vốn gốc, tương đương 373,5%/năm là điều bất hợp lý. Nguyên nhân xuất phát từ việc Ngân hàng TMCP S tính lãi chồng lãi và phí chồng phí, cụ thể tiền lãi chưa thanh toán được cộng vào vốn gốc để tính phí trễ hạn, sau đó phí trễ hạn lại được cộng ngược lại nợ gốc để tính lãi, cách tính này được lặp lại xoay vòng nên nợ lãi và nợ phí trễ hạn tăng lên rất nhiều lần so với số nợ gốc.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn”. Vì vậy việc Ngân hàng nhập lãi, phí trễ hạn vào nợ gốc để tiếp tục tính lãi, phí trễ hạn là không phù hợp.
  1. Từ những phân tích nêu trên cho thấy việc Ngân hàng thông báo yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi, các khoản phí với tổng số tiền chưa thanh toán là chưa phù hợp qui định của pháp luật. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc hủy Thông báo số 181/TB-SCB CẦN THƠ.23.00 ngày 09/11/2023 của Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C1 và buộc Ngân hàng tính lại nợ gốc và nợ lãi theo đúng quy định của pháp luật là có cơ sở để chấp nhận.

Đối với nợ lãi do Ngân hàng xác định chỉ tính theo đúng Thông báo điều chỉnh lãi suất từng thời kỳ nên được tính như sau:

  • + Từ ngày 11/9/2019 đến ngày 15/6/2020 quá hạn 278 ngày, lãi suất 24%/năm, tiền lãi phải trả là 17.713.266 đồng.
  • + Từ ngày 16/6/2020 đến ngày 25/4/2023 quá hạn 1.043 ngày, lãi suất 26%/năm, tiền lãi phải trả là 71.994.659 đồng.
  • + Từ ngày 26/4/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 18/3/2024 quá hạn 328 ngày, lãi suất 30%/năm, tiền lãi phải trả là 26.123.882 đồng.

Tổng tiền lãi phải thanh toán là 17.713.266 đồng + 71.994.659 đồng + 26.123.882 đồng = 115.831.807 đồng.

Đối với nợ phí thanh toán trễ hạn Ngân hàng tính mỗi tháng 4% trên tổng số tiền chưa thanh toán tương tự như nợ lãi, thậm chí là cao hơn rất nhiều so với nợ lãi là không phù hợp. Hơn nữa, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc Ngân hàng N (được sửa đổi, bổ sung năm 2016, 2017, 2018, 2019, 2020, 2021, theo Văn bản họp nhất số: 15/VBHN-NHNN ngày 07/12/2021) quy định: “Chỉ tổ chức phát hành thẻ được thu phí của chủ thẻ.... Biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức phát hành thẻ phải phù hợp với quy định của pháp luật, được niêm yết công khai và phải cung cấp cho chủ thẻ trước khi sử dụng và khi có sự thay đổi. Các hình thức thông báo và cung cấp thông tin về phí cho chủ thẻ phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ...”. Đồng thời, tại Điều 13 Thông tư số 19 cũng quy định cụ thể Hợp đồng phát hành và sử dụng Thẻ phải bao gồm nội dung tối thiểu quy định về phí (các loại phí, các thay đổi về phí). Đối chiếu với các quy định này, qua xem xét mẫu giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S, do không có bất kỳ nội dung nào quy định các loại phí, các thay đổi về phí hoặc nội dung dẫn chiếu đính kèm biểu phí áp dụng đối với Thẻ tín dụng là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, chỉ có cơ sở chấp nhận số tiền nợ phí thanh toán trễ hạn như sau: 96.902.613 đồng x 4% = 3.876.104 đồng.

Đối với phí vượt hạn mức thẻ Ngân hàng tính 1.319.172 đồng và các loại phí thường niên khác với số tiền 989.030 đồng là phù hợp nên được chấp nhận.

Như vậy, tổng số tiền nợ gốc, lãi, phí mà ông T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S là 96.902.613 đồng + 115.831.807 đồng + 3.876.104 đồng + 1.319.172 đồng + 989.030 đồng = 218.918.726 đồng.

  1. Trong quá trình thụ lý giải quyết tại cấp sơ thẩm nhưng Bị đơn không có phản tố, đồng thời tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn tự nguyện thanh toán nợ gốc, nợ lãi của ông T đối với Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật. Xét đề nghị của Nguyên đơn là tự nguyện và có cơ sở chấp nhận nên ghi nhận sự tự nguyện này.
  2. Tại phiên tòa phúc thẩm Ngân hàng kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác, nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng. Bản án sơ thẩm xử là có căn cứ được giữ nguyên.
  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Do ghi nhận sự tự nguyện thanh toán nợ gốc và lãi của Nguyên đơn đối với Bị đơn nên Nguyên đơn không phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền này.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng không được chấp nhận, nên phải chịu án phí theo qui định.
  3. Quan điểm của Viện kiểm sát: Nhận xét và đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  • - Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C1.
  • - Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C1.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Huỳnh Minh T.
  • - Hủy Thông báo về việc thanh toán khoản nợ quá hạn số: 181/TB-SCB CẦN THƠ.23.00 ngày 09/11/2023 của Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C1.
  • - Ghi nhận sự tự nguyện của ông Huỳnh Minh T đồng ý thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ Thẻ tín dụng ghi nợ tạm tính đến ngày 18/3/2024 là 218.918.726 đồng (Hai trăm mười tám triệu, chín trăm mười tám nghìn, bảy trăm hai mươi sáu đồng). Trong đó, nợ gốc là 96.902.613 đồng, nợ lãi là 115.831.807 đồng, nợ phí là 6.184.306 đồng. Ông Huỳnh Minh T tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất được quy định trong Thông báo của Ngân hàng TMCP S đối với thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ.
  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  • - Nguyên đơn ông Huỳnh Minh T được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000659 ngày 13/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
  • - Bị đơn Ngân hàng TMCP S phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng TMCP S phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0001206 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều thành án phí (nộp xong).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 02/7/2024.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TPCT;
  • - TAND Q. Ninh Kiều;
  • - CC THADS Q.Ninh Kiều;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Hồng Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 283/2024/DS-PT ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 283/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger