Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 283/2023/HSST

Ngày: 21/12/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Quang Hoạch.
  • 2. Ông Nguyễn Trung Chính.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai: Ông Lê Đình Đạo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại điểm cầu chính trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu Nhà Tạm giữ -Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 298/2023/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 272/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Phước T, sinh năm 1990; tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965 và bà Dương Thị Thanh X, sinh năm 1958; có vợ tên: Thoong Quang Y, sinh năm 1992 và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

  • - Ngày 25/8/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • - Ngày 01/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 21/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Có mặt).

2/ Họ và tên: Chề C, sinh năm 1991; tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chề Chiều M, sinh năm 1968 và bà Nìm Chí D, sinh năm 1969; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

  • Ngày 29/11/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 21/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Có mặt).

- Người làm chứng: Bà Phạm Thị H (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phước T và Chề C1 Quay đều nghiện ma tuý loại Heroin, cả 02 đang uống thuốc Methadone tại Trung tâm y tế huyện T. Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 21/06/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên sau khi uống Methadone thì T điều khiển xe môtô dạng Honda Wave màu xanh gắn biển số 65KA-004.24 đến ngã tư A, Thành phố Hồ Chí Minh (không nhớ rõ địa chỉ) gặp B (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) ma túy loại Heroin. B đồng ý và bán cho T 01 (một) gói nylon kích thước 4cm x 4cm bên trong chứa 02 (hai) cục ma túy loại Heroin và 02 (hai) gói nylon mỗi gói kích thước 1cm x 1,5cm bên trong mỗi gói chứa ma túy đá, T cất ma túy và đi về. Khoảng 10 giờ, khi T về đến thị trấn T thì gặp Q, Q hỏi mua 200.000 đồng ma túy loại Heroin của T thì T đồng ý, Q đưa 200.000 đồng cho T, T cất tiền vào túi quần trước bên phải đang mặc, sau đó Q điều khiển xe môtô gắn biển số 65KA-004.24 chở T đến tiệm T1 để mua 02 kim tiêm, rồi đến lô cao su gần sân gold thuộc khu phố C, thị trấn T sử dụng ma túy. Tại đây, T lấy gói ma túy loại H1 vừa mua ra, rồi lấy một ít ma túy chia cho Q bằng với số tiền 200.000 đồng để Q cho vào kim tiêm sử dụng, T cũng lấy một ít cho vào kim tiêm để sử dụng. Sử dụng xong, T lấy ma tuý phân nhỏ ra cho vào 06 (sáu) đoạn ống nhựa màu trắng kích thước khác nhau rồi hàn kín hai đầu, sau đó T gói tất cả ma túy vào tờ giấy bạc cất giấu trong gói nylon đỏ kích thước 5cm x 8cm để trong áo khoác của T đang mặc rồi rủ Q đi ăn và uống cà phê. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, G (không biết tên, địa chỉ) gọi điện thoại cho T hỏi mua 400.000 đồng (bốn trăm nghìn) ma túy loại H1 và hứa trả nợ cho T 100.000 đồng (một trăm nghìn) mượn trước đó. T đồng ý và hẹn Gà đến khu vực cầu G, xã G để mua bán ma túy, sau khi gọi điện xong thì T xoá lịch sử cuộc gọi nên không nhớ số điện thoại của G. Lúc này, Q ngồi gần T nên nghe rõ, do đó khi T rủ Q cùng đi bán ma túy và hứa cho Q ma túy để sử dụng thì Q đồng ý. Đến khoảng 13 giờ ngày 21/06/2023 Q điều khiển xe môtô gắn biển số 65KA-004.24 chở T mang ma túy đi đến điểm hẹn và đứng trước quán N1 thuộc ấp H, xã G, huyện T gần cầu G chờ Gà đến để bán ma túy, khi cả hai đang đứng chờ thì bị lực lượng Công an xã G kiểm tra phát hiện bắt quả tang T đang cất giấu ma túy trong túi áo khoác phía trước đang mặc. Ngoài ra, ngày 18/6/2023 T đã bán cho Q 01 (một) tép ma tuý Heroin với giá 100.000 đồng để Q sử dụng.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 06 (sáu) đoạn ống nhựa màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 (một) gói nylon màu trắng kích thước 4cm x 4cm bên trong chứa 02 cục chất bột màu trắng; 02 (hai) gói nylon màu trắng kích thước 1cm x 1,5cm chứa tinh thể màu trắng. Tất cả được niêm phong vào phong bì dán kín có chữ ký của Nguyễn Phước T và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen gắn sim số 0373802861, 01 (một) xe mô tô dạng Honda Wave màu xanh gắn biển số 65KA-004.24 (tất cả đều đã qua sử dụng).
  • - 01 ví da màu nâu bên trong có 01 CCCD mang tên Nguyễn Phước T, 01 thẻ điều trị Methanode và số tiền 5.000 đồng của Nguyễn Phước T.

Ngày 22/06/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định số 354/QĐ-KTMT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh Đ giám định chất ma tuý. Tại Kết luận giám định số 1314/KL-KTHS ngày 28/06/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ, kết luận:

  • - Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,5270gam (không phẩy năm hai bảy mươi gam). Loại: Heroine (H).
  • - Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,0605gam (không phẩy không sáu không năm gam), loại: Methamphetamine.

Cơ quan điều tra Công an huyện T đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Phước T và Chề C1 Quay để điều tra. Quá trình điều tra Nguyễn Phước T và Chề Chếch Q1 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Đối với 01 ví da màu nâu bên trong có 01 CCCD mang tên Nguyễn Phước T, 01 thẻ điều trị Methanode, số tiền 5.000 đồng của Nguyễn Phước T không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trả lại cho T.

Đối với xe mô tô dạng Honda Wave màu xanh gắn biển số 65KA-004.24, kết quả tra cứu xác định biển số 65KA-004.24 là của xe môtô loại 50 màu vàng đen, số máy RL8HC139FMB000622, số khung: RRPDCB1UMAA000622 do anh Nguyễn Văn N, địa chỉ: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ đứng tên trên chứng nhận đăng ký xe, năm 2015 anh N đã bán xe mô tô trên (không quen biết người mua) nhưng không làm thủ tục sang tên trên chứng nhận đăng ký xe. Cơ quan điều tra đã trưng cầu Phòng KTHS (PC09) Công an tỉnh Đ giám định số khung, số máy của xe để xác định rõ nguồn gốc xe xử lý theo quy định, nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời nên tách ra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 296/CT-VKS-TB ngày 15/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Nguyễn Phước T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Chề C1 Quay về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T mức án từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, xử phạt bị cáo Chề C1 Quay mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác và đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Phước T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Chề Chếch Q1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương nên cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của các bị cáo. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, nhưng chỉ dừng lại ở tính chất giản đơn. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo để xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[4]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5]. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong sau giám định số: 1314/KL-KTHS ngày 28/06/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ; 01 sim số điện thoại 0370.862.xxx.
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, đã cũ, không lên nguồn, không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật.
  • - Buộc bị cáo phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền thu thu lợi bất chính.

[6]. Đối với người tên B (Không rõ họ tên, địa chỉ) bán ma túy cho T và người tên G (Không rõ họ tên, địa chỉ) mua ma túy của T đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

[7]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt:
    • + Bị cáo Nguyễn Phước T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2023.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
    • - Tuyên bố bị cáo Chề C1 Quay phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt:
    • + Bị cáo Chề C1 Quay 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2023.
  3. Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong sau giám định số: 1314/KL-KTHS ngày 28/06/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ; 01 sim số điện thoại 0370.862.xxx.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, đã cũ, không lên nguồn, không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật.
    • - Buộc bị cáo phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền thu thu lợi bất chính.
  4. (Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).
  5. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc các bị cáo Nguyễn Phước T, Chề C1 Quay mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - CC.THADS huyện Trảng Bom;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Bá Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 283/2023/HSST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 283/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA - HS - Nguyễn Phước Thọ + ĐP - K1,2 Đ251- T11-2023
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger