Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẦU GIẤY

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 283/2023/HS-ST

Ngày: 28/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Lan Chi

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đông

Bà Bùi Thị Minh Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh – Thư ký Toà án nhân dân quận Cầu Giấy

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa: Ông Nghiêm Đình Trọng – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 281/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 285/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

HỒ MINH HIẾU

– Sinh năm: 2001; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Địa chỉ thường trú: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Họ tên bố: Hồ Minh H; Họ tên mẹ: Mai Thị M; D chỉ bản số 303 lập ngày 31/05/2023 tại Công an quận C, thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang ngày 23/05/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).

Người bị hại: Chị Phạm Thị Thu H1 – Sinh năm: 2005; Địa chỉ thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 10/2022, Hồ Minh H2 đến làm nhân viên lễ tân tại quán M1, địa chỉ số A N, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội. Tại đây, H2 có quan hệ tình cảm với chị Phạm Thị Thu H1, (sinh năm 2005, nơi thường trú: Thôn C, xã Đ, T, Thái Bình là nhân viên massage). Trong thời gian yêu nhau, H2 nhiều lần vay tiền chị H1, tổng số tiền khoảng 4.000.000 đồng. Đến tháng 3/2023, H2 nghỉ làm. Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 15/4/2023, H2 cầm cố Căn cước công dân và đăng ký xe của H2 được 4.000.000 đồng, đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Do muốn có tiền chuộc giấy tờ để vào trong miền N làm ăn, H2 nói dối chị H1 là H2 có vay ở ngoài 20.000.000 đồng, hiện cả lãi và gốc là gần 30.000.000 đồng. Chị H1 đã đưa cho H2 mượn chiếc dây chuyền vàng để trả nợ nhưng H2 không lấy. Đầu tháng 5/2023, H2 và chị H1 chia tay nhưng thỉnh thoảng H2 vẫn liên lạc muốn quay lại với chị H1 nhưng chị H1 không đồng ý. H2 nói ý định quay lại quán M1 để làm việc nhưng do không muốn gặp lại H2 nên chị H1 bảo sẽ không đòi số tiền H2 vay của chị H1 nếu H2 không đến quán M1 nữa. Ngày 22/5/2023, H2 tiếp tục nhắn tin cho chị H1, kể cho chị H1 việc H2 đang chán nản, bế tắc do phải vay nợ, đang cần thanh toán khoản nợ 30.000.000 đồng. H2 muốn vay chị H1 tiền để trả nợ, nếu chị H1 đồng ý thì H2 không bao giờ làm phiền chị H1 nữa. Chị H1 nói hiện tại không có tiền. H2 nhắn "Ok, đấy là do em chọn". Trước đó H2 không muốn chị H1 làm massage và lo sợ nếu không đưa tiền cho H2 thì H2 sẽ nói cho bố mẹ chị H1 biết công việc đang làm nên chị H1 nhắn “Thế em nghỉ việc thì sao, hay giờ anh cứ bắt em đưa tiền cho anh anh mới không động tới gia đình em”. H2 trả lời “Tùy em, muốn làm sao em làm, còn anh thích làm sao là việc của anh”. Chị H1 hỏi "Sao anh kêu em nghỉ việc hoặc đưa tiền", H2 bảo chị H1 muốn làm gì thì làm, H2 không ép. Chị H1 bảo cho suy nghĩ một lúc sau đó hỏi H2 khi nào cần tiền, H2 bảo càng sớm càng tốt để trả nợ và hai bên thỏa thuận, chốt số tiền chị H1 đưa cho H2 là 30.000.000 đồng, hẹn ngày 23/5/2023. Do vẫn lo sợ H2 sẽ nói với bố mẹ về công việc của mình nên lúc 20 giờ 00 cùng ngày, chị H1 nhắn tin cho H2 “Anh đừng nói với bố mẹ em được không, em đang đi vay, sẽ sớm đưa cho anh”. H2 trả lời “Anh lo xong việc rồi anh cũng đi thôi, gia đình anh cũng không còn quan tâm nữa thì anh nói với gia đình em làm cái gì”. Chị H1 hỏi lại lần nữa, H2 trả lời "Đúng, em làm gì là việc của em còn anh cũng phải lo cho cuộc sống của anh, anh làm lại được thì anh sẽ trả lại gấp đôi".

Sau đó H2 liên tục nhắn tin đe dọa chị H1 buộc chị H1 phải hẹn H2 đến quán cà phê A, số C T, D, Cầu G, Hà Nội để chị H1 đưa 10.000.000 đồng cho H2, còn 20.000.000 đồng sẽ đưa sau. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/5/2023, H2 đến quán cà phê A, nhắn tin bảo chị H1 ra ngoài vì không muốn vào quán nhưng chị H1 không đồng ý. Khoảng 10 phút sau, H2 đi vào quán, ngồi với chị H1 tại bàn tầng 1, trong góc quán. Chị H1 hỏi H2 tại sao lại làm thế sau một thời gian có tình cảm với nhau, yêu cầu H2 hứa sau khi đưa tiền sẽ không gặp, không đụng chạm gì đến gia đình chị H1. H2 đồng ý và nói “Anh hứa, anh hứa”. Sau đó, chị H1 lấy trong túi xách 10.000.000 đồng đưa cho H2 và nói “Anh đếm đi”. Khi H2 đang cầm tiền trên tay thì chị H1 hô "Cướp". Thấy vậy, anh Đoàn Bảo D1 (sinh năm: 1997, nơi thường trú: N, Nghệ An) là khách của quán giữ H2 lại. Sau đó, Công an phường D đến lập biên bản tiếp nhận người phạm tội quả tang, đưa H2, người liên quan cùng vậy chứng về trụ sở để làm việc. Tạm giữ của Hồ Minh H2 số tiền 10.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 11 của H2. Kết quả kiểm tra điện thoại của H2 có nội dung tin nhắn H2 ép chị H1 phải đưa tiền cho H2.

Ngày 16/10/2023, Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị Phạm Thị Thu H1 10.000.000 đồng, chị H1 đã nhận lại và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Tại cơ quan điều tra, Hồ Minh H2 đã khai nhận hành vi vi phạm như nội dung trên, lời khai phù hợp với nội dung tin nhắn giữa H2, H1 và các tài liệu khác đã thu thập.

Tại Bản cáo trạng số 274/CT-VKSCG ngày 06/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã truy tố Hồ Minh H2 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận khoảng 18 giờ 05 phút ngày 23/05/2023, tại quán C, số C T, D, Cầu G, Hà Nội, bị cáo đã có hành vi cưỡng đoạt của chị Phạm Thị Thu H1 số tiền 10.000.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Cầu Giấy giữ quan điểm truy tố với Hồ Minh H2 như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng. Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 170; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về dân sự: Tài sản đã trao trả cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 11 thu giữ của bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, của người làm chứng, được chứng minh bằng vật chứng thu giữ của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 23/05/2023, tại quán C, số C T, D, Cầu G, Hà Nội, bị cáo Hồ Minh H2 đã có hành vi cưỡng đoạt tài sản của chị Phạm Thị Thu H1 số tiền 10.000.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Hồ Minh H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội Cưỡng đoạt tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm luật hình sự, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội. Bị cáo đã có hành vi uy hiếp tinh thần của người bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người bị hại, bị cáo đã sử dụng điện thoại di động Iphone 11 liên tục nhắn tin cho chị Phạm Thị Thu H1 nhằm đe dọa chị H1 nếu không thực hiện đúng yêu cầu của H2 thì H2 sẽ nói với gia đình chị H1 biết công việc đang làm hiện nay của chị H1 là nhân viên massage, nhằm uy hiếp tinh thần của người bị hại lo sợ, ép người bị hại phải đưa cho bị cáo số tiền 10.000.000 đồng. Mặc dù tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả cho người bị hại, nhưng hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.

[4] Về nhân thân của bị cáo: Không có tiền án, tiền sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Khi áp dụng hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; Người bị hại đã nhận lại tài sản và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Mặt khác, bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng, đã có công lao thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông nội bị cáo được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, bà nội bị cáo được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và được tặng huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Không.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và nguồn thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ đã qua sử dụng thu giữ của Hồ Minh H2 đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 16/10/2023, Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị Phạm Thị Thu H1 10.000.000 đồng, chị H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Minh H2 phạm tội Cưỡng đoạt tài sản
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, Xử phạt: Hồ M (Mười hai) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/05/2023.

    Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ đã qua sử dụng thu giữ của Hồ Minh H2 đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

    Vật chứng trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng số 038/GN/THA-CG ngày 14/11/2023 giữa Công an quận C và Chi cục THADS quận C.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 16/10/2023, Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị Phạm Thị Thu H1 10.000.000 (Mười triệu) đồng, chị H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Do vậy, HĐXX không xem xét.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 phần I Mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết: Bị cáo Hồ Minh H2 phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người bị hại;
  • - VKSND quận Cầu Giấy;
  • - Công an quận Cầu Giấy;
  • - Chi cục Thi hành án DS quận Cầu Giấy;
  • - TAND.TP Hà Nội;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - Trại tạm giam số 1 – Công an TPHN;
  • - UBND xã Nga Giáp, H.Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án + Văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Hoàng Lan Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 283/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 283/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hồ Minh H2 phạm tội Cưỡng đoạt tài sản theo Khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger