TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 283/2023/DS-ST Ngày 16-11-2023 V/v Tranh chấp hợp đồng thuê và quản lý căn hộ. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Đắc Toàn.
- Ông Nguyễn Văn Sỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/20230/TLST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng thuê và quản lý căn hộ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2023/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lê Minh K, địa chỉ: Số nhà A, Ngõ A, đường D, tổ dân phố A, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Hoàng Minh T, địa chỉ: Số nhà A, đường số H, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 22 tháng 02 năm 2023). Vắng mặt.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần F, địa chỉ: Khu S, khu D - C, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Người đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần F: Bà Trần Thị Kim Q là người đại diện theo pháp luật (Giám đốc). Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đoàn Phương L, địa chỉ: Số nhà A, Ngõ A, đường D, tổ dân phố A, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Minh K, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Hoàng Minh T thống nhất trình bày:
Ngày 17-4-2017, anh Lê Minh K (Bên B) có ký Hợp đồng thuê và quản lý tài sản số 353/2017/HĐTCH-FLCQN-BĐ với Công ty Cổ phần F (Bên A) (sau đây viết tắt là F). Theo Điều 2 của Hợp đồng thuê và quản lý tài sản, anh K đồng ý cho F thuê căn hộ số E, tầng C, diện tích 68m2, thuộc Dự án Khu đô thị D, tọa lạc tại Khu K, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định, của Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần T1 (sau đây viết tắt là Tập đoàn T1). Về giá thuê thì các bên thỏa thuận căn cứ trên giá tính tiền thuê được quy định tại Điều 1.1.11 Hợp đồng thuê là 2.101.141.140 đồng. Theo Điều 3 của Hợp đồng thuê thì trong vòng 10 năm đầu tiên (Thời hạn đảm bảo thu nhập), F phải trả tiền thuê theo Giá thuê bằng 85% lợi nhuận/năm, nhưng trong mọi trường hợp sẽ không thấp hơn 10%/năm của G tính tiền thuê (Giá thuê định mức) nêu trên, sau khi trừ đi các khoản thuế (nếu có) mà bên A phải nộp cho nhà nước. Về phương thức thanh toán là chuyển khoản. Thời hạn tính tiền thuê theo quy định tại Điều 4.2 Hợp đồng thuê như sau:
- Giá thuê của 12 tháng đầu tiên kể từ Ngày bắt đầu, bên B tạm ứng cho Bên A một lần trong thời hạn sau 03 tháng kể từ ngày Bên A thanh toán cho Chủ đầu tư 95% giá bán căn hộ (sau khi trừ đi các khoản khuyến mãi, chiết khấu bán hàng và các khoản giảm giá (nếu có) do Chủ đầu tư áp dụng cho Bên A) theo Hợp đồng mua bán.
- Giá thuê của các năm dương lịch tiếp theo được Bên B tạm ứng cho Bên A 02 kỳ trong 01 năm vào tháng 01 và tháng 7 (kỳ tạm ứng vào tháng 07 được tạm ứng cho các tháng đã thuê từ tháng 01 đến hết tháng 6 của năm dương lịch đó; kỳ thanh toán tháng 01 tạm ứng cho các tháng đã thuê từ tháng 7 đến tháng 12 của năm liền trước đó).
Thời hạn thuê theo thỏa thuận tại Điều 5 Hợp đồng thuê là kể từ ngày ký Hợp đồng thuê đến ngày 23-4-2065 (ngày cuối cùng của thời hạn 50 năm hoạt động của dự án theo giấy Chứng nhận đầu tư số 4370744030 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp lần đầu ngày 24-4-2015). Hợp đồng mà hai bên ký kết có tiêu đề là Hợp đồng thuê và quản lý tài sản; nghĩa là anh K cho F thuê lại căn hộ và đi kèm là trách nhiệm bảo quản, quản lý tài sản (nội thất) có trong căn hộ mà anh K mua của Chủ đầu tư Tập đoàn T1. Danh mục tài sản được nêu trong phụ lục đính kèm hợp đồng mua bán căn hộ, đó là những tài sản mà chủ đầu tư đã cam kết khi anh K mua căn hộ sẽ có.
Thực tế, tiền thuê mà anh K thực nhận chỉ là những tháng còn lại của năm 2017, năm 2018, năm 2019 và kỳ 01 năm 2020. Tiền thuê thay vì đủ 10%/năm thì bị trừ đi khoản thuế thu nhập cá nhân, mà nguyên đơn tin rằng F có lý do để không phải nộp cho Nhà nước khoản thuế thu nhập của anh K phải đóng. Nếu F đã trừ khoản thuế thu nhập cá nhân vào tiền thuê thì nguyên đơn cần biết việc kê khai và nộp thuế này có thực hiện hay không. Đại diện nhóm nhiều lần tiếp xúc đại diện phía Tập đoàn T1 để yêu cầu thanh toán các khoản tiền thuê còn thiếu nhưng vẫn không được giải quyết. Cùng với khoản tiền thuê kỳ 02 năm 2020, các khoản tiền thuê của năm 2021, năm 2022 và kỳ 01 năm 2023 cũng không được F thanh toán cho anh K như đã cam kết. Tiền thuê 01 kỳ (06 tháng) là 105.057.057 đồng (= ½ x 10% x 2.101.141.140 đồng). Tiền thuê chưa thanh toán 06 kỳ là 630.342.342 đồng (= 6 x 105.057.057 đồng), làm tròn là 630.342.000 đồng.
Theo thỏa thuận về phạt lãi chậm thanh toán tiền thuê được hai bên thỏa thuận theo Điều 10.1 Hợp đồng thuê và quản lý tài sản, cụ thể nếu quá 30 ngày kể từ ngày cuối cùng của thời hạn phải thanh toán mà bên B không thanh toán thì khoản tiền chậm thanh toán sẽ bị tính lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay vốn của cá nhân kỳ hạn 12 tháng bằng đồng Việt Nam của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) công bố tại thời điểm thanh toán tính từ ngày thứ 31 kể từ ngày cuối cùng của thời hạn phải thanh toán cho đến ngày bên B thanh toán khoản tiền đó. Khoản phạt lãi chậm thanh toán tiền thuê được tính bằng 06 khoản tiền lãi tương ứng với 06 kỳ tiền thuê chưa thanh toán. Theo Điều 146 Bộ luật Dân sự quy định 01 tháng là 30 ngày và 01 năm là 365 ngày; nhưng nguyên đơn tự nguyên áp dụng 01 năm là 360 ngày để xác định số ngày vi phạm. Đối với lãi suất vay vốn của cá nhân kỳ hạn 12 tháng bằng đồng Việt Nam của B, nguyên đơn áp dụng 7,7%/năm theo lãi suất thu thập của Tòa án tại Công văn số 1822/CV-BIDV.QNH ngày 09-11-2023 của B Chi nhánh Q1. Tiền lãi chậm thanh toán theo Điều 10.1 của Hợp đồng thuê được áp dụng công thức: 150% x lãi suất ngày x tiền thuê 01 kỳ x số ngày vi phạm. Theo đó, tiền lãi chậm thanh toán của căn hộ số 353 tính từ ngày thứ 31 kể từ ngày cuối cùng của thời hạn phải thanh toán cho đến ngày 16-11-2023 như sau:
- Lãi chậm thanh toán tiền thuê kỳ 02 năm 2020 làm tròn là 33.410.000 đồng (=150% x 7,7%/365 ngày x 105.057.057 đồng x 1.005 ngày) (tính từ 01-02-2021 đến 16-11-2023).
- Lãi chậm thanh toán tiền thuê kỳ 01 năm 2021 làm tròn là 27.426.000 đồng (=150% x 7,7%/365 ngày x 105.057.057 đồng x 825 ngày) (tính từ 01-8-2021 đến 16-11-2023).
- Lãi chậm thanh toán tiền thuê kỳ 02 năm 2021 làm tròn là 21.442.000 đồng (=150% x 7,7%/365 ngày x 105.057.057 đồng x 645 ngày) (tính từ 01-02-2022 đến 16-11-2023).
- Lãi chậm thanh toán tiền thuê kỳ 01 năm 2022 làm tròn là 15.458.000 đồng (=150% x 7,7%/365 ngày x 105.057.057 đồng x 465 ngày) (tính từ 01-8-2022 đến 16-11-2023).
- Lãi chậm thanh toán tiền thuê kỳ 02 năm 2022 làm tròn là 9.474.000 đồng (=150% x 7,7%/365 ngày x 105.057.057 đồng x 285 ngày) (tính từ 01-02-2023 đến 16-11-2023).
- Lãi chậm thanh toán tiền thuê kỳ 01 năm 2023 làm tròn là 3.490.000 đồng (=150% x 7,7%/365 ngày x 105.057.057 đồng x 105 ngày) (tính từ 01-8-2023 đến 16-11-2023).
Tổng tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê tính đến 16-11-2023 là 110.700.000 đồng. Nay nguyên đơn yêu cầu F phải thanh toán cho anh Lê Minh K các khoản tiền sau: Tiền thuê chưa thanh toán 06 kỳ là 630.342.000 đồng; tiền lãi phạt chậm thanh toán là 110.700.000 đồng; tổng cộng là 741.042.000 đồng. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu đòi đủ tiền thuê là 10% trên giá tính tiền thuê và cam kết sẽ thực hiện nộp thuế khi nhận được thông báo nộp thuế từ cơ quan thuế sau này.
* Bị đơn Công ty Cổ phần F và người đại diện theo pháp luật của bị đơn đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa để làm việc, không tham dự phiên tòa và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
* Tại đơn tường trình đề ngày 22 tháng 8 năm 2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đoàn Phương L trình bày:
Chị là vợ của anh Lê Minh K. Căn hộ số 353 do chồng chị mua lại của Tập đoàn T1 thuộc Dự án Khu đô thị D. Đây là tài sản chung của vợ chồng chị. Theo chính sách bán hàng và thỏa thuận giữa Chủ đầu tư và Nhà đầu tư mua căn hộ thì sau khi thanh toán đủ 95% giá bán căn hộ, vợ chồng chị phải cho F thuê lại để kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch. Chồng chị đã thực hiện việc cho thuê căn hộ và đã nhận một khoản tiền thuê từ F. Chồng chị đứng tên cá nhân trên hợp đồng mua bán cũng như hợp đồng thuê và quản lý tài sản nhằm thuận lợi trong giao dịch. Vợ chồng chị mua căn hộ này để có thêm thu nhập và về già có nơi nghỉ dưỡng cho gia đình. Nay quyền lợi của vợ chồng chị bị xâm phạm, chị đề nghị Tòa án căn cứ trên yêu cầu khởi kiện của chồng chị để giải quyết bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho vợ chồng chị theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 351, 353, 357, 481 của Bộ luật Dân sự năm 2015; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Minh K buộc bị đơn F có nghĩa vụ thanh toán cho anh K tiền tiền thuê căn hộ còn lại của năm 2020, tiền thuê năm 2021 và năm 2022, kỳ 1 năm 2023 là 566.408.108 đồng và tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán tiền thuê căn hộ 100.832.254 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Anh Lê Minh K khởi kiện yêu cầu F thanh toán tiền thuê căn hộ và tiền lãi chậm thanh toán theo thỏa thuận tại Hợp đồng thuê và quản lý tài sản số 353/2017/HĐTCH-FLCQN-BĐ ngày 17-4-2017. Tại phiên tòa (lần thứ ba) hôm nay, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn tiếp tục vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử xác định vụ án dân sự có quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp hợp đồng thuê và quản lý căn hộ”, thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định và phiên tòa vẫn được tiến hành theo quy định.
[2] Hợp đồng thuê và quản lý căn hộ số 353/2017/HĐTCH-FLCQN-BĐ kèm theo các Phụ lục hợp đồng được ký kết ngày 17-4-2017 giữa Bên cho thuê anh Lê Minh K và Bên thuê F do các bên có đầy đủ năng lực pháp luật, năng luật hành vi dân sự tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Đối tượng của hợp đồng thuê là căn hộ số 53 (mã căn hộ khách sạn 3311), diện tích 68m², tầng 3, khối khách sạn F1, thuộc dự án Khu D tại khu S, Khu D - C, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Việc ký kết Hợp đồng thuê này là thực hiện theo thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán căn hộ số 353/2017/HĐMBCH-FLCQN-BĐ kèm theo các Phụ lục hợp đồng được ký kết ngày 12-4-2017 giữa Bên bán Tập đoàn T1 và Bên mua anh Lê Minh K. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, mặc dù pháp luật chưa có quy định cụ thể để điều chỉnh đối với các giao dịch liên quan đến loại hình căn hộ khách sạn này, nhưng xét về mục đích ban đầu thể hiện trong Hợp đồng mua bán căn hộ, Hợp đồng thuê và quản lý tài sản là căn hộ “để ở” với thời hạn sử dụng “lâu dài” cho phép có thể áp dụng tương tự pháp luật, các nguyên tắc của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản để giải quyết loại tranh chấp có liên quan. Bởi vậy, xét về hình thức và nội dung các điều khoản cơ bản của Hợp đồng thuê nêu trên là không trái pháp luật, phù hợp với quy định tại các Điều 3, 6, 117, 398, 483, 484 của Bộ luật Dân sự; các Điều 118, 119, 120, 121 của Luật Nhà ở; các Điều 4, 5, 11, 17, 18, 25, 54, 55, 57 của Luật Kinh doanh bất động sản nên có hiệu lực pháp lý.
[3] Quá trình thực hiện Hợp đồng thuê và quản lý tài sản (căn hộ), F đã thanh toán tiền thuê cho anh K những tháng còn lại của năm 2017, năm 2018, năm 2019 và kỳ 01 năm 2020. Từ ngày 31-7-2020 cho đến nay, F không tiếp tục thanh toán tiền thuê mặc dù đại diện của các bên đã nhiều lần tiếp xúc, làm việc với nhau. Từ đó cho thấy việc chậm thanh toán tiền thuê là hành vi vi phạm có lỗi của F, đã vi phạm các Điều 3, 4 của Hợp đồng thuê và quản lý tài sản; Điều 29 của Luật Kinh doanh bất động sản; Điều 481 Bộ luật Dân sự. Do đó, việc anh K yêu cầu F tiếp tục thanh toán tiền thuê kỳ 02 năm 2020, năm 2021, năm 2022, kỳ 01 năm 2023 và tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê theo thỏa thuận tại các Điều 3, 4, 10.1 của Hợp đồng thuê và quản lý tài sản là có căn cứ, phù hợp với các Điều 351, 353, 357, 364, 488 của Bộ luật Dân sự.
[4]. Tại Điều 3.1.1 của Hợp đồng thuê quy định: “Trong vòng 10 năm đầu tiên kể từ Ngày bắt đầu, Bên A sẽ được hưởng Giá thuê bằng 85% lợi nhuận/năm (tính trên tiền Bên B cho thuê căn hộ sau khi đã trừ chi phí) với cách tính được nêu tại Điều 3.1.2 dưới đây nhưng trong mọi trường hợp sẽ không thấp hơn 10% Giá tính tiền thuê /năm (Giá thuê định mức) sau khi trừ đi các khoản thuế (nếu có) mà bên A phải nộp cho nhà nước và theo quy định tại Hợp đồng này.”. Giá tính tiền thuê được quy định tại Điều 1.1.11 của Hợp đồng thuê là 2.101.141.140 đồng. Các khoản thuế phát sinh mà bên cho thuê phải chịu trong trường hợp này gồm có:
- Lệ phí môn bài là 300.000 đồng/năm (các Điều 2, 4 của Nghị định số 139/2016/NĐ-CP ngày 04-10-2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài, đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 22/2020/NĐ-CP ngày 24-02-2020 của Chính phủ);
- Thuế giá trị gia tăng là 5% (các Điều 3, 4, 8 của Luật Thuế giá trị gia tăng);
- Thuế thu nhập cá nhân là 5% (các Điều 2, 3, 10, 25 của Luật Thuế thu nhập cá nhân).
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, F còn nợ anh K tiền thuê của kỳ 02 năm 2020, năm 2021, năm 2022 và kỳ 01 năm 2023 (06 kỳ). Tại Điều 10.1 Hợp đồng thuê và quản lý tài sản quy định: “Nếu quá 30 ngày kể từ ngày cuối cùng của thời hạn phải thanh toán theo quy định tại Điều 4.2.1 và 4.2.2 của Hợp đồng mà bên B không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì khoản tiền chậm thanh toán sẽ bị tính lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay vốn của cá nhân kỳ hạn 12 tháng bằng đồng Việt Nam của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) công bố tại thời điểm thanh toán tính từ ngày thứ ba mươi mốt kể từ ngày cuối cùng của thời hạn phải thanh toán cho đến ngày bên B thanh toán khoản tiền đó”. Tại Văn bản số 1822/CV-BIDV.QNH ngày 09-11-2023 của B Chi nhánh Q1 v/v cung cấp thông tin cho biết lãi suất vay vốn đối với khách hàng cá nhân thông thường kỳ hạn 12 tháng bằng đồng Việt Nam tại thời điểm hiện tại: Mức thấp nhất 6,6%/năm; mức cao nhất 7,7%/năm. Do đó, tiền thuê và lãi chậm thanh toán được tính như sau:
Như vậy, F phải có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng anh K, chị L tiền thuê căn hộ của kỳ 02 năm 2020, năm 2021, năm 2022 và kỳ 01 năm 2023 với tổng số tiền là 566.408.108 đồng và tiền lãi chậm thanh toán (tính đến ngày 16-11-2023) với tổng số tiền là 100.832.254 đồng, tổng cộng là 667.240.362 đồng. F còn phải tiếp tục trả tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê căn hộ cho anh K, chị L theo mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay vốn của cá nhân kỳ hạn 12 tháng bằng đồng Việt Nam của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ công bố tại thời điểm thanh toán kể từ ngày 17-11-2023 cho đến khi thanh toán hết tiền thuê căn hộ nêu trên. Anh K yêu cầu F thanh toán tổng số tiền là 741.042.000 đồng, nên phần yêu cầu vượt quá 73.801.638 đồng (=741.042.000 đồng - 667.240.362 đồng) không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm, theo Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, F phải chịu 30.689.614 đồng; anh K phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận là 3.690.081 đồng, được trừ vào các khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị về giải quyết vụ án về cơ bản là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 3, 6, 117, 351, 353, 357, 364, 398, 481, 483, 484, 488 của Bộ luật Dân sự;
- Các Điều 118, 119, 120, 121 của Luật Nhà ở;
- Các Điều 4, 5, 11, 17, 18, 25, 29, 54, 55, 57 của Luật Kinh doanh bất động sản;
- Các Điều 2, 3, 10, 25 của Luật Thuế thu nhập cá nhân;
- Các Điều 3, 4, 8 của Luật Thuế giá trị gia tăng;
- Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Các Điều 2, 4 của Nghị định số 139/2016/NĐ-CP ngày 04-10-2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 22/2020/NĐ-CP ngày 24-02-2020 của Chính phủ);
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh K.
Buộc Công ty Cổ phần F phải thanh toán cho anh Lê Minh K, chị Đoàn Phương L tiền thuê căn hộ chưa thanh toán là 566.408.108 đồng và tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê căn hộ tính đến ngày 16-11-2023 là 100.832.254 đồng, tổng cộng là 667.240.362 đồng.
Kể từ ngày 17-11-2023 cho đến khi thanh toán hết tiền thuê căn hộ nêu trên, Công ty Cổ phần F còn phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay vốn của cá nhân kỳ hạn 12 tháng bằng đồng Việt Nam của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ công bố tại thời điểm thanh toán.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh K với số tiền là 73.801.638 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Công ty Cổ phần F phải chịu án phí là 30.689.614 đồng.
3.2. Anh Lê Minh K phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận là 3.690.081 đồng, trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.208.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003544 ngày 05 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, anh K được hoàn trả 10.517.919 đồng.
4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Trần Duyên Anh |
Bản án số 283/2023/DS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng thuê và quản lý căn hộ.
- Số bản án: 283/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê và quản lý căn hộ.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh K kiện đòi tiền thuê căn hộ
