Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 283/2023/DS-ST.

Ngày: 15-11-2023.

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng

đặt cọc và tài sản”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lân.

- Hội thẩm nhân dân:

1, Bà Nguyễn Thị Thu Phương.

2, Ông Nguyễn Năng Tấn.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 262/2022/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2022, về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tài sản”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2023/QĐXX-ST ngày 09 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 100/2023/QĐHPT-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Xuân K, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
    • - Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Lê Xuân H, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội (Theo Giấy uỷ quyền ngày 12/10/2023).
  2. Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1950; Địa chỉ: Số D, Tổ A, Đ, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội.
    2. Khuất Thị V, sinh năm 1949 (Là vợ ông L); Địa chỉ: Số D, Tổ A, Đ, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Ngô Thị Bích T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
    2. Nguyễn Thị Bích L1 (tức T1), sinh năm 1975 (Là con ông L, bà V); Địa chỉ: Số C, Ngõ D, Tổ A đường N, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội.
    3. Ông Nguyễn Tiến H1, sinh năm 1976 (Là con ông L, bà V); Địa chỉ: Số D, Tổ A, Đ, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội.
    4. Ông Nguyễn Tiến H2, sinh năm 1978 (Là con ông L, bà V); Địa chỉ: Số D, Tổ A, Đ, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội.

- Có mặt: Ông H.

- Vắng mặt: Ông K, ông L, bà V, bà T, bà L1, ông H1 và ông H2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ghi không ghi ngày, tháng, năm 2022; Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 12 tháng 12 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, nguyên đơn là ông Lê Xuân K và người đại diện theo uỷ quyền của ông K là ông Lê Xuân H trình bày:

Xuất phát từ việc bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1973, trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội làm nghề môi giới đất giới thiệu, thì ông và bà Ngô Thị Bích T mới biết gia đình ông Nguyễn Văn L có nhu cầu chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất của ông L có tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 37, diện tích 413m² thuộc thôn Đ, xã Đ.

Ngày 04 tháng 11 năm 2021, sau khi được ông L cho xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng của thửa đất muốn bán, giữa ông K cùng bà T và các thành viên trong gia đình ông L đã thống nhất ký với nhau 01 Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất với giá là 37.500.000đ/1m². Trên cơ sở hồ sơ kỹ thuật thửa đất gia đình ông L đã thuê đo trước đó thì phần đất chuyển nhượng ở về phía tây có diện tích là 148,9m². Ngay sau khi ký xong các văn bản trên, ông K đã giao cho gia đình ông L nhận luôn số tiền đặt cọc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng).

Do vị trí thửa đất giáp chân đê, để nhận chuyển nhượng đất được và có lối đi thuận lợi cho cả hai bên, gia đình ông L đồng ý lùi vào chiều sâu của thửa đất 1,5m so với chân đê. Vì vậy, sau khi thuê đo đạc lại thửa đất, ngày 05/11/2022 ông L và anh H2 cùng ký với ông K 01 Hợp đồng đặt cọc viết tay, 01 Biên bản thống nhất về việc chuyển nhượng chính thức diện tích đất là 137m² có bà B ký làm chứng.

Theo thoả thuận thì ông và bà T bỏ kinh phí ra thuê Công ty đo đạc lập hồ sơ kỹ thuật thửa đất để tách thửa, thuê người mua vật tư và thi công san lấp mặt bằng, đổ bê tông đường đi chung, xây cống thoát nước phía giáp chân đê, xây tường ngăn ranh giới đất chuyển nhượng với chi phí tổng cộng là 85.720.000 đồng.

Ngày 05 tháng 12 năm 2021, ông KT đã đưa thêm cho gia đình ông L nhận số tiền 50.000.000 đồng nữa và thống nhất là trả tiền mua đất.

Tiếp đó, ngày 18 tháng 12 năm 2021, bà T đại diện bên mua và gia đình ông L lập Biên bản thỏa thuận về diện tích chuyển nhượng là 148m² với giá cả đã thỏa thuận trước đó là 37.500.000 đ/1m², thành tiền là 5.550.000.000đ (Năm tỷ, năm trăm năm mươi triệu đồng). Gia đình ông L cho bên mua 50.000.000 đồng để thuê dịch vụ làm “sổ đỏ”. Trừ số tiền cọc, ông KT còn phải thanh toán cho gia đình ông L số tiền nhận chuyển nhượng đất là 5.000.000.000đ (Năm tỷ đồng) khi ra Văn phòng công chứng ký Hợp đồng chuyển nhượng và làm thủ tục chia, tách thửa luôn cho các con ông là chị L1, anh H2 và anh H1.

Việc làm hồ sơ liên quan đến chuyển nhượng đất giữa hai bên, bên mua hỗ trợ về thời gian và đưa ông L đến các cơ quan có thẩm quyền để ký hoàn thiện các văn bản theo quy định.

Quá trình nhờ bên dịch vụ làm thủ tục sang tên và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông L thắc mắc làm lâu, kéo dài thời gian nên không nhờ dịch vụ làm nữa và đã tự ý rút hồ sơ về. Do bên dịch vụ cho biết nếu gia đình ông L rút hồ sơ về không chuyển nhượng đất nữa thì bên mua sẽ bị mất tiền cọc và các chi phí khác, ông K đã gửi đơn yêu cầu ngừng giao dịch đối với thửa đất của gia đình ông L đến Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ để tránh bị gia đình ông L tẩu tán, bán cho người khác. Khi ông K, bà T đến gặp ông L để hỏi lý do ông L rút hồ sơ thì ông lại đưa ra giá bán cao hơn với giá đã thoả thuận và đòi trả thêm tiền, ông K, bà T không đồng ý mới dẫn đến tranh chấp giữa hai bên.

Ông K xác định việc không thực hiện được thủ tục chuyển nhượng đất theo thoả thuận trong Hợp đồng đặt cọc giữa hai bên là hoàn toàn do lỗi của gia đình ông L gây ra. Ông đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết: Buộc gia đình ông L tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên, trường hợp gia đình ông L không chuyển nhượng đất nữa thì phải hoàn trả cho ông và bà T khoản tiền đặt cọc 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng); Tiền phạt cọc theo thoả thuận là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), đồng thời trả số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) đã ứng trước cùng với giá trị tài sản đã đầu tư xây tường, làm đường và cống thoát nước trên đất của gia đình ông L là 85.720.000đ (T2 mươi lăm triệu, bẩy trăm hai mươi ngàn đồng). Tổng cộng là: 1.135.720.000đ (Một tỷ, một trăm ba mươi lăm triệu, bẩy trăm hai mươi ngàn đồng).

Tại Bản tự khai ngày 30 tháng 03 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án tại Toà án, bị đơn là ông Nguyễn Văn L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là: Bà Khuất Thị V, ông Nguyễn Tiến H1, ông Nguyễn Tiến H2 và bà Nguyễn Thị Bích L1 (T1) cùng trình bày thống nhất với ông K khai về quyền sử dụng đất của ông L có ở thôn Đ, xã Đ. Công nhận có việc gia đình có thỏa thuận chuyển nhượng một phần của thửa đất về phía tây cho ông K, bà T với giá 37.500.000đ/1m², cũng như đã nhận của ông K, bà T số tiền 500.000.000 đồng đặt cọc, 50.000.000 đồng tiền ứng trước, tổng cộng là 550.000.000 đồng. Gia đình có thoả thuận để bên mua thuê dịch vụ làm các thủ tục liên quan về giấy tờ, hồ sơ chuyển nhượng đất cho ông K, bà T và tách thửa cho các con ông L, bà V.

Lý do gia đình ông không chuyển nhượng đất cho ông K, bà T nữa, không chấp nhận trả tiền cọc 500.000.000 đồng và phạt cọc vì: Bên mua cố ý kéo dài thủ tục cấp đổi sổ và tách thửa. Gia đình ông vẫn có thiện chí chuyển nhượng đất cho bên mua với điều kiện ông K phải rút đơn yêu cầu ngừng giao dịch để sau khi gia đình ông hoàn thiện xong việc đăng ký cấp đổi từ “sổ đỏ” sang “sổ hồng” theo quy định sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho bên mua như đã thỏa thuận, còn về giá cả sẽ tính theo thời điểm hai bên ký lại hợp đồng.

Đối với các tài sản ông K, bà T tự ý đầu tư trên đất thì gia đình không chịu trách nhiệm, ông bà phải tự tháo dỡ hay xử lý thế nào thì tùy.

- Bà Ngô Thị Bích T có lời khai, quan điểm thống nhất với nguyên đơn là ông Lê Xuân K và đại diện của ông K là ông Lê Xuân H nêu ở trên.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên lời khai và quan điểm về việc giải quyết tranh chấp như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện hoàn toàn đầy đủ các qui định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án.

- Bị đơn là ông Nguyễn Văn L, bà Khuất Thị V và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là: Bà Nguyễn Thị Bích L1 (T), ông Nguyễn Tiến H2 và ông Nguyễn Tiến H1 không chấp hành đầy đủ, nghiêm túc các thông báo và quyết định tố tụng của Toà án; Ông K vắng mặt tại phiên toà nhưng có mặt ông H là người đại diện theo uỷ quyền; Bà V, ông H1 và bà T vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có đơn xin vắng mặt; Ông L, bà L1 và ông H2 vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do.

- Về đường lối giải quyết vụ án:

+ Đối với tranh chấp về Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của nguyên đơn ông Lê Xuân K: Các Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng các Biên bản làm việc ký các ngày 04 và 15 tháng 11năm 2021 giữa hai bên là có thật. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên tham gia đều có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, không bị gò ép. Nội dung thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Bên đặt cọc chuyển nhượng đất là ông Lê Xuân K, bà Ngô Thị Bích T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của bên đặt cọc chuyển nhượng đất.. Việc không tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hoàn toàn do lỗi của gia đình ông L là bên chuyển nhượng gây ra. Ông K, bà T đã chuyển 50.000.000 đồng cho gia đình ông L nhận trong quá trình thực hiện thỏa thuận được xác định là tiền nhận chuyển nhượng đất, do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

+ Đối với tranh chấp về giá trị tài sản của ông K, bà T đầu tư trên đất của gia đình ông L: Xác định việc bên nhận chuyển nhượng đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng là: Đổ đất san nền, xây tường, cống thoát nước và đường bê tông trên cơ sở có sự thoả thuận giữa hai bên để đảm bảo cho việc chuyển nhượng đất, sử dụng đất được thuận lợi và là tài sản có giá trị sử dụng, ông L là chủ sử dụng đất không phản đối, thắc mắc gì. Việc chuyển nhượng đất không thành là do lỗi của gia đình ông L, vì vậy, cần buộc gia đình ông L phải thanh toán giá trị của các tài sản đó cho ông K, bà T là phù hợp.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 47 BLTTDS; Điều 328, khoản 4 Điều 422 BLDS năm 2005; Khoản 2 Điều 26, khoản 4 Điều Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Xuân K đối với ông Nguyễn Văn L, bà Khuất Thị V về tranh chấp Hợp đồng đặt cọc và tài sản. Buộc gia đình ông L phải thanh toán cho ông K, bà T tiền đặt cọc, tiền phạt cọc, tiền ứng trước và giá trị tài sản có trên đất tổng cộng là: 1.135.929.600đ (Một tỷ, một trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi chín ngàn sáu trăm đồng).

- Về án phí: Ông Nguyễn Văn L và bà Khuất Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nhưng ông L, bà V thuộc đối tượng người cao tuổi nên được miễn nộp toàn bộ tiền án phí phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Nguyên đơn là ông Lê Xuân K vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có ông Lê Xuân H là người đại diện theo uỷ quyền của ông K tham gia tố tụng tại phiên toà; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Khuất Thị V, ông Nguyễn Tiến H1, ông Nguyễn Tiến H2 và bà Ngô Thị Bích T vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết, xét xử vụ án nhưng đã có đơn xin vắng mặt; Ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Bích L1 (tức T1) vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Toà án tống đạt, triệu tập hợp lệ. Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn quyết định đưa vụ án ra xét xử và giành quyền kháng cáo cho đương sự theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Ông Nguyễn Văn L có thửa đất ở số 56, tờ bản đồ số 37, diện tích 403m², thuộc địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 523788 ngày 07 tháng 12 năm 2007 mang tên ông L là chủ sử dụng. Thửa đất có vị trí: Phía bắc giáp hành lang đê; Phía nam giáp đất nhà ông T3; Phía đông và phía tây đều giáp tiểu ngõ.

Ngày 04 tháng 11 năm 2021, giữa ông K, bà T và các thành viên trong gia đình ông L đã thoả thuận chuyển nhượng cho nhau diện tích tạm đo là 148,9m² với giá 37.500.000 đồng/1m². Thống nhất bớt vị trí giáp hành lang đê 1,5m để làm lối đi chung. Số tiền chuyển nhượng đất được thanh toán theo số đo thực tế. Ông K đã giao cho gia đình ông L nhận số tiền đặt cọc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng).

Hợp đồng đặt cọc ngày 04 tháng 11 năm 2021 giữa hai bên có nội dung:

“Bên đặt cọc (Bên A): Ông Lê Xuân K.

Bên nhận đặt cọc (Bên B): Ông Nguyễn Văn L và bà Khuất Thị V.

Bên B đồng ý bán cho bên A: Thửa đất tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội tờ bản đồ số 37, số thửa 56, diện tích 148,9/413m² (Đất ở 100%), số sổ 52/2252/QĐ-UB-AH 523788.

Giá bán hai bên thoả thuận: 37.500.000đ (Ba mươi bẩy triệu năm trăm ngàn đồng).

Diện tích tạm tính 148,9m² x 37.500.000đ/1m² = 5.583.750.000 đồng.

Tại Biên bản thống nhất và Biên bản thoả thuận về việc chuyển nhượng được ký trong các ngày 05, 11 và 18 tháng 11 năm 2021 có chữ ký của bên chuyển nhượng là: Ông Nguyễn Văn L, bà Khuất Thị V, bà Nguyễn Thị Bích L1 (T1) và ông Nguyễn Tiến H2; Người làm chứng là bà Nguyễn Thị B thể hiện diện tích đất hai bên chuyển nhượng cho nhau được xác định là 137m².

Theo thoả thuận, ông KT ứng tiền thuê Công ty đo đạc lập hồ sơ kỹ thuật thửa đất để tách thửa và thuê người mua vật tư, thi công san lấp mặt bằng, xây cống thoát nước, xây tường ngăn ranh giới các lô đất và đổ bê tông đường đi chung phía giáp chân đê với số tiền theo chứng từ là 85.720.000 đồng.

Ngày 05 tháng 12 năm 2021, theo yêu cầu của gia đình ông L, ông K và bà T ứng thêm cho gia đình ông L số tiền 50.000.000 đồng nữa và xác định là trả tiền mua đất.

Tiếp đó, ngày 18 tháng 12 năm 2021, giữa bà T và gia đình ông L lập Biên bản thỏa thuận về việc bên bán cho bên mua 50.000.000 đồng để sử dụng vào việc thuê dịch vụ làm “sổ đỏ”, bao gồm cả việc chia tách thửa cho các con ông L, bà V là bà L1, ông H2 và ông H1.

Quá trình làm thủ tục chuyển nhượng, do phải chờ thực hiện xong việc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ “sổ đỏ” sang “sổ hồng” của thửa đất thì mới được chuyển nhượng thì ông L có thắc mắc là thủ tục làm lâu, kéo dài thời gian nên không nhờ dịch vụ làm nữa và đã tự ý rút hồ sơ về. Ông K và bà T được bên dịch vụ và cán bộ Văn phòng Đ cho biết nếu gia đình ông L rút hồ sơ về không chuyển nhượng đất nữa thì ông K, bà T sẽ bị mất tiền cọc và các khoản chi phí khác, ông K đã gửi đơn yêu cầu ngừng giao dịch đối với thửa đất của gia đình ông L đến Văn phòng Đăng ký đất đai để tránh bị gia đình ông L tẩu tán, bán cho người khác, đồng thời gặp gia đình ông L để giải quyết thì gia đình ông L đòi bán với giá cao hơn từ đó dẫn đến tranh chấp giữa hai bên.

[2.2]. Kết quả thẩm định, định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản ngày 22/03/2023 xác định:

  • - Đổ cát và san nền : 37.500.000₫
  • - 8,5m² cống thoát nước : 4.379.200₫
  • - 18,37m² đường đi bê tông: 3.365.600₫
  • - 104m² tường gạch : 40.684.800₫
  • Cộng: 85.929.600₫
  • (T2 mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi chín ngàn, sáu trăm đồng).

[2.3]. Xét Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 04 và ngày 15 tháng 11 năm 2021 giữa gia đình ông Nguyễn Văn L và ông Lê Xuân K, bà Ngô Thị Bích T để thực hiện mục đích chuyển quyền sử dụng một phần thửa đất ở số 56, tờ bản đồ số 37 của ông L có tại thôn Đ, xã Đ có nội dung như trên là có thật, được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc; Các bên tham gia giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; Nội dung các thoả thuận ghi trong hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật, phù hợp qui định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Hợp đồng phát sinh hiệu lực đối với các bên kể từ thời điểm giao kết. Ông Nguyễn Tiến H1 là con trai ông L, bà V không tham gia ký Hợp đồng đặt cọc với ông K, bà T nhưng có biết và đồng ý việc cả gia đình chuyển nhượng đất cho ông K, bà T.

Quá trình thực hiện các thủ tục liên quan đến việc chuyển nhượng đất theo thoả thuận, ông K, bà T đã cùng với bên chuyển nhượng thực hiện việc nộp hồ sơ đăng ký biến động thửa đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Việc phải chờ thủ tục cấp đổi sổ cho gia đình ông L là hoàn toàn do khách quan, phụ thuộc vào cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không có lỗi của bên đặt cọc. Đến nay, ông K và bà T vẫn có quan điểm được tiếp tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của gia đình ông L, cho thấy bên đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có lỗi trong giao dịch dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, ông L và các thành viên trong gia đình ông cho rằng, việc không làm được thủ tục cấp đổi sổ, chuyển nhượng đất là do ông K, bà T cố tình trì hoãn để từ đó cho rằng ông K, bà T có lỗi trong giao dịch chuyển nhượng đất và không chấp nhận trả tiền cọc, phạt cọc. Xét quan điểm đó của các đương sự không phù hợp với nội dung thỏa thuận đã ghi Hợp đồng đặt cọc, không được bên đặt cọc là ông K và bà T đồng ý nên không có cơ sở chấp nhận.

[2.4]. Đối với các tài sản ông K, bà T đầu tư xây trên đất của gia đình ông L là: Đổ cát san nền, lối đi bê tông, cống thoát nước và tường gạch xây chia lô có trị giá theo kết quả định giá tài sản ngày 22/03/2023 tổng cộng là: 85.929.600 đồng. Ông K và bà T yêu cầu gia đình ông L phải trả cho ông bà giá trị các tài sản đó bằng tiền là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.

[2.5]. Tổng số tiền ông Nguyễn Văn L, bà Khuất Thị V phải thanh toán cho ông Lê Xuân K, bà Ngô Thị Bích T là: 1.135.929.600đ (Một trăm ba trăm mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi chín ngàn, sáu trăm đồng).

Tại Toà án, ông K và bà T khai thống nhất về các khoản tiền đầu tư cho đặt cọc chuyển nhượng đất, chi phí san lấp mặt bằng và xây công trình trên đất là do ông bà chung nhau với mức góp vốn bằng nhau nên số tiền vợ chồng ông L, bà V trả được chia cho mỗi bên sở hữu ½ là: 567.964.800 đồng.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

[3.1]. Nguyên đơn là ông Lê Xuân K được Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[3.2]. Bị đơn là ông Nguyễn Văn L, bà Khuất Thị V phải chịu án phí dân sự có giá ngạch được tính trên tổng số tiền ông bà phải trả cho ông Lê Xuân K và bà Ngô Thị Bích T là: 1.135.929.600 đồng, án phí tính được là: 46.077.900 đồng (Làm tròn số). Hiện ông L và bà V đều thuộc trường hợp người cao tuổi, Toà án căn cứ vào quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội miễn cho ông bà không phải nộp toàn bộ tiền án phí phải chịu.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[5]. Quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 328; Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 3 Điều 26; Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điểm đ, khoản 1 Điều 12; Khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết;
  • - Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện về tranh chấp Hợp đồng đặt cọc và tài sản của ông Lê Xuân K đối với ông Nguyễn Văn L.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn L và bà Khuất Thị V có trách nhiệm trả cho ông Lê Xuân K và bà Ngô Thị Bích T các khoản tiền đặt cọc, tiền phạt cọc và giá trị các tài sản có trên đất tổng cộng là: 1.135.929.600đ (Một tỷ, một trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi chín ngàn, sáu trăm đồng) với kỷ phần của ông K và bà T mỗi người ½ là: 567.964.800đ (Năm trăm sáu mươi bẩy triệu, chín trăm sáu mươi tư ngàn, tám trăm đồng).
  3. Về án phí:
    1. Ông Nguyễn Văn L và bà Khuất Thị V phải nộp 46.077.900₫ (Bốn mươi sáu triệu, không trăm bẩy mươi bẩy ngàn, chín trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng ông L và bà V đều thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp toàn bộ tiền án phí phải chịu.
    2. Ông Lê Xuân K được nhận lại số tiền 14.714.000đ (Mười bốn triệu, bẩy trăm mười bốn ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2020/0047371 ngày 14 tháng 12 năm 2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội trả.
  4. Về quyền kháng cáo:
    1. Ông Lê Xuân K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    2. Ông Nguyễn Văn L và bà Khuất Thị V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
    3. Nguyễn Thị Bích L1 (tức T1), ông Nguyễn Tiến H2, ông Nguyễn Tiến H1 và bà Ngô Thị Bích T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ về phần có liên quan.
  5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tại thời điểm trả nợ đối với khoản tiền chưa thanh toán, tương ứng với thời gian chậm trả.
  6. Trường hợp Quyết định thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Ngọc Lân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 283/2023/DS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tài sản

  • Số bản án: 283/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Xuân Kh khởi kiện đòi tiền đặt cọc và tài sản đối với ông Nguyễn Văn L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger