|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 282/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/8/2024 V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tấn Đạt
- Bà Lê Thị Ngọc Thúy
Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 178/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 226/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Mỹ A, sinh năm xxxx. (xin vắng mặt)
- Bị đơn: Lê Quốc C, sinh năm xxxx. (vắng mặt không lý do)
Địa chỉ: Ấp TX, xã TP, huyện TPĐ, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn ngày 25/6/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ A trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh C quen biết, tìm hiểu nhau khoảng 08 năm thì tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G vào năm 2013. Sau khi cưới, chị về chung sống bên gia đình chồng được vài tháng thì do mâu thuẫn với mẹ chồng nên chị và con gái về nhà cha mẹ ruột ngụ ấp TX, xã TP, huyện TPĐ sinh sống cho đến nay. Vợ chồng chị mỗi người sống một nơi, đến dịp lễ tết thì chị mới về thăm gia đình chồng và ngược lại anh C cũng vậy; khoảng 2-3 tháng hoặc có khi cả năm anh C mới đến thăm mẹ con chị. Trước đây, anh C có gửi tiền cho chị để phụ nuôi con gái nhưng khoảng 01 năm nay do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên anh C không đến thăm mẹ con chị và cũng không gửi tiền cấp dưỡng nuôi con, anh C còn chặn liên lạc qua điện thoại với chị. Chị có nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án 02 lần nhưng đã rút đơn do anh C nan nỉ hàn gắn tình cảm. Hiện vợ chồng chị tiếp tục phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về kinh tế, anh C còn ghen tuông vô cớ nên chị yêu cầu được ly hôn.
- Về nuôi con chung: Vợ chồng chị chung sống có 01 người con chung là cháu Lê Quỳnh Anh T, sinh ngày xx/xx/xxxx hiện sống cùng chị. Ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T và chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Quốc C không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn dù anh đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ A, cho chị A được ly hôn với anh Lê Quốc C. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Quỳnh Anh T, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị A không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Anh C được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện G theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nêu trên.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị A, nhận thấy: Anh C và chị A kết hôn năm 2013, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G theo Giấy chứng nhận kết hôn số xx ngày xx/xx/xxxx nên là hôn nhân hợp pháp. Theo chị A xác định: Sau khi cưới, vợ chồng chị mỗi người sống một nơi và phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về kinh tế, anh C ghen tuông vô cớ nên chị không muốn tiếp tục cuộc hôn nhân này. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh C nhưng anh không đến Tòa án, không gửi văn bản trình bày ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị A. Điều này cho thấy anh đã bỏ mặc cuộc hôn nhân này, không mong muốn hàn gắn tình cảm nên cần chấp nhận yêu cầu của chị A, cho chị được ly hôn với anh C là cần thiết và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về nuôi con chung: Anh chị chung sống có 01 người con chung là cháu Lê Quỳnh Anh T, sinh ngày xx/xx/xxxx hiện sống cùng chị A. Xét yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung của chị A là có cơ sở chấp nhận; vì cháu có nguyện vọng muốn tiếp tục sống cùng chị A và anh C cũng không phản đối yêu cầu này của chị A nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu T cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng, thực hiện từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, lao động được. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận chị A không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Anh C được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị A yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ A. Chị Nguyễn Thị Mỹ A được ly hôn với anh Lê Quốc C.
- Về nuôi con chung:
- - Giao cháu Lê Quỳnh Anh T, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng, thực hiện từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, lao động được.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận chị A không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
- - Anh C được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị A phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013487 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G nên xem như chị đã nộp xong án phí.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bích Thiền |
Bản án số 282/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 282/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A.
