TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 282/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08-12-2025.
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Chí Công.
Ông Đào Việt Khái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 456/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 (CCCD số [...], cấp ngày 25/12/2024 - Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Chị Huỳnh Thị D, sinh năm 1987 (CCCD số [...], cấp ngày 02/7/2021- Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 10 năm 2025 cùng các văn bản khác kèm theo, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Vào ngày 15/3/2006 anh anh và chị Huỳnh Thị D kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (nay là Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Cà Mau). Trong quá trình chung sống giữa anh và chị D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cự cải nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, anh và chị D đã sống ly thân từ tháng 12/2024 cho đến nay, do đó anh yêu cầu được ly hôn với chị Huỳnh Thị D.
Về con chung, có hai người tên là Nguyễn Văn Huỳnh (giới tính nam), sinh năm 2006 và Nguyễn Văn Hào (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 3 năm 2010. Đối với Nguyễn Văn Huỳnh hiện đã thành niên và có khả năng tự lao động nên không yêu cầu giải quyết. Riêng Nguyễn Văn Hào hiện do chị D trực tiếp nuôi dưỡng nên khi ly hôn anh yêu cầu giao Nguyễn Văn Hào cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Huỳnh Thị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Đồng thời, cũng không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Việc anh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị D là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn chị D cư trú tại ấp C, xã Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nói trên là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân, anh T và chị D kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân giữa anh T và chị D là hôn nhân hợp pháp. Anh T yêu cầu ly hôn với chị D vì anh T cho rằng quá trình chung sống giữa anh T và chị D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cự cải nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa anh T và chị D đã trầm trọng mà không hàn gắn, đoàn tụ được và đã sống ly thân từ tháng 12/2024 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, chị D không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của anh T cũng như không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận cho anh T ly hôn với chị D là có căn cứ đúng theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung, có hai người tên là Nguyễn Văn Huỳnh (giới tính nam), sinh năm 2006 và Nguyễn Văn Hào (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 3 năm 2010. Đối với Nguyễn Văn Huỳnh hiện đã thành niên và có khả năng tự lao động nên không đặt ra xem xét. Anh T yêu cầu giao Nguyễn Văn Hào cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, chị D không có ý kiến phản đối với yêu cầu về con chung của anh T. Xét thấy, con chung hiện do chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng, do đó nhằm để ổn định về điều kiện môi trường sống và đảm bảo sự phát triển bình thường của con chưa thành niên, từ đó giao cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
[4] Anh T xác định tài sản chung và nợ chung là không có nên không yêu cầu giải quyết. Chị D không có ý kiến về những vấn đề trên nên không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh T phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Văn T ly hôn với chị Huỳnh Thị D.
- Về con chung, chị Huỳnh Thị D trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Văn Hào (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 3 năm 2010. Anh Nguyễn Văn T không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001873, ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, nay đối trừ anh Nguyễn Văn T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Huệ |
Bản án số 282/2025/HNGĐ-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 282/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Văn T ly hôn với chị Huỳnh Thị D. 2. Về con chung, chị Huỳnh Thị D trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Văn Hào (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 3 năm 2010. Anh Nguyễn Văn T không cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. 3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001873, ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, nay đối trừ anh Nguyễn Văn T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
