Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 282/2024/HS-ST

Ngày: 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tín

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thiếu Liên

Ông Lê Văn Khanh

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 230/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 388/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Đào S H, sinh năm 19xx, tại Nam Định; Hộ khẩu thường trú: Số jjj đường M, phường B, quận B, Thành phố H; nghề nghiệp: L; trình độ học vấn: jj/12; Giới tính: N; quốc tịch: V; dân tộc: K; tôn giáo: K; con ông Đào S P, sinh năm 19xx và bà Phạm T X, sinh năm 19xx; hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Nguyễn P T T, sinh năm 19xx và có 0i con lớn nhất sinh năm 20xx, nhỏ nhất sinh năm 20jj; Tiền sự: Không, Tiền án: Không. Bị cáo bị bắt ngày 26/03/20xx (Có mặt);

Bị hại:

Bà Nguyễn X T, sinh năm 20xx; Trú tại : Số 1 đường số jj, phường B, quận B, thành phố H (Vắng mặt);

Người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan:

1/Ông Đặng V L, sinh năm 19xx; Trú tại: Số H đường X, huyện H, Thành phố H(Vắng mặt).

2/Ông Đặng V B, sinh năm 19xx; Trú tại: Số 1 đường số j, phường B, quận B, Thành phố H(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn X T được một người bạn tên Q (chưa rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thông báo Trần V L (bạn trai của T) bị Công an bắt ở gần bệnh viện quận Bình Tân, phường Bình Trị Đông A do liên quan đến ma túy. Thông qua một người bạn tên Nguyễn T M D giới thiệu Thì gọi điện cho Đặng V L (trước đây T có quen biết L) nhờ L hỏi giúp vụ việc. Sau đó, Thì đưa thông tin của cá nhân của L cho L. Được T nhờ, L gọi điện cho Đào S H nói "có bạn nhỏ em bị Công an bắt do có liên quan đến ma túy" rồi cung cấp thông tin của L cho H biết để xem giúp. Khi được L hỏi, do không có tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. H nói với L "trong điện thoại nó có tin nhắn mua bán ma túy, chỉ giúp xóa tin nhắn khỏi phải đi tù, còn việc kiểm tra ma túy nếu có lên thì chỉ bị đi N với giá 70.000.000 đồng". Sau đó, L nói lại thông tin này cho T biết và nói giá 80.000.000 đồng, T đồng ý. Do không đủ tiền, T nói đưa trước 50.000.000 đồng, số tiền 30.000.000 đồng còn lại sẽ đưa sau. Tiếp đó, L có gọi điện cho H thỏa thuận gửi trước 50.000.000 đồng, số tiền 20.000.000 đồng còn lại sẽ chuyển sau thì H đồng ý. Đến khoảng 01 giờ 24 ngày 31/10/20jj, Thì dùng tài khoản ngân hàng ngân hàng S số 060402022xxx mang tên NGUYEN X T chuyển vào tài khoản ngân hàng M số 094340xxx tên DANG V L số tiền 50.000.000 đồng. Nhận tiền từ T xong, đến khoảng 12 giờ 50 phút ngày 31/10/20jj, L có dùng số tài khoản ngân hàng M số 094340xxx chuyển vào số tài khoản 880809xxx tên DAO S H ngân hàng A do H cung cấp số tiền 47.000.000 đồng rồi nhờ vợ của L tên Phan T N H chuyển cho H 3.000.000 đồng, tổng cộng L đã chuyển cho H số tiền 50.000.000 đồng theo như thỏa thuận. Việc L phải chuyển khoản nhiều lần cho H vì tài khoản của L hết hạn mức chuyển khoản. Nhận tiền từ L chuyển đến H dùng để để giải quyết công việc cá nhân và tiêu xài hết.

Tối ngày 31/11/20jj, Thì nhận được điện thoại của L nói đang ở trung tâm cai nghiện Nhị Xuân và T có nói cho L biết việc giúp xóa tin nhắn có nội dung mua bán ma tuý, L nói lại cho T biết trong điện thoại L không có tin nhắn mua bán ma túy. T nghi ngờ bị lừa đảo nên khi L yêu cầu đưa số tiền 30.000.000 đồng còn lại T không đồng ý; L có gọi cho H để hỏi lại vụ việc của L và H vẫn khẳng định có lo cho L nên ngày 05/11/202j, L đến gặp T để nhận số tiền còn lại thì bị Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân đưa về làm việc. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 06/11/202j, H biết L bị Công an mời làm việc nên đã chủ động chuyển khoản trả lại cho L 50.000.000 đồng và xóa tài khoản zalo.

Ngày 08/01/202j, H bị mời về Cơ quan điều tra làm việc, Tại Cơ quan điều tra H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của H thống nhất, phù hợp với lời khai của Đặng V L và Nguyễn X T.

Vật chứng thu giữ, tạm giữ:

- Xe mô tô biển số 54Nj – 04jj thu giữ của Đặng V L. Kết luận giám định số 374/KL-KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Xe mô tô biển số 54Nj – 04jj, số máy JC43E – 08268jj; số khung: RLHJC4309AY0245jj không bị đục lại số. Kết quả xác minh xe do ông Đặng V B (HKTT: kk đường số v, KP n, phường B, quận B) đứng tên sở hữu. Ông B khai cho L mượn xe để đi công việc, không biết hay liên quan gì đến hành vi của L nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông B.

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23, số sêri R58TC0YNG0B, vỏ màu xanh (đã qua sử dụng) thu giữ của Đặng V L. Điện thoại này L dùng để liên lạc với bị cáo H để hỏi thông tin liên quan cho T.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn T X T đã nhận lại số tiền 50.000.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị hại cùng các chứng cứ khác của vụ án.

Tại bản cáo trạng số 220/QĐ-VKS, ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố Đào S H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân sau khi phân tích nội dung vụ án, phân tích chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 174 điểm b, s Khoản 1 điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị xử phạt bị cáo Đào S H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách theo qui định cũa pháp luật.

Về xử lý vật chứng đề nghị căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 số sêri R58TC0YNG0B vỏ màu xanh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Trong quá trình điều tra truy tố bị cáo Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, với lời khai của bị hại với tang vật vụ án được thu giữ, phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Đào S H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài, phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin không đúng sự thật “nói trong điện thoại của Lăm có tin nhắn liên quan đến mua bán ma túy” và giúp xóa tin nhắn để khỏi phải đi tù với mục đích chiếm đoạt số tiền 70.000.000 đồng của bị hại. Số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 50.000.000 đồng sau đó bị phát hiện và bị bắt giữ. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để truy tố bị cáo là phù hợp vời qui định của pháp luật, nên việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật, cần thiết phải có mức án thật nghiêm khắc tương xứng với tội lỗi của bị cáo đã thực hiện, nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo trở thành người tốt hơn cho xã hội, sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét bị cáo có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, đã tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, thời gian tạm giam vừa qua cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà hôm nay đối với bị cáo không cần thiết phải cách tiếp tục ly ra khỏi xã hội, xét cho bị cáo được hưởng mức án treo có thời gian thử thách lâu dài cũng đủ tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo, đồng thời thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đối với người mới phạm tội lần đầu mà biết ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử cũng cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo b, s Khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại Khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh bị cáo nên miễn phạt bổ sung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện bà Nguyễn X T đã nhận số tiền bồi thường 50.000.000 đồng và không thắc mắc khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử xét thấy không có gì để giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 số sơ ri R58TC0YNG0B vỏ màu xanh thu giữ của ông Đặng V L. Quá trình điều tra xác định ông L không biết việc bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của bị hại nên Hội đồng xét xử quyết định tịch trả lại cho ông L.

Đối với Đặng V L không biết, không bàn bạc thống nhất với bị cáo Đào S H để đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại Nguyễn X T và L cũng không được hưởng lợi ích vật chất gì từ H nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với L là phù hợp.

Đối với Nguyễn X T đã đưa tiền cho Đặng V L để đưa cho Đào S H nhằm xóa tin nhắn liên quan đến ma túy của Trần V L, nhưng nội dung thông tin này là do H tự nghĩ ra nhằm tạo sự tin tưởng để chiếm đoạt tài sản của T; T không biết được sự việc cụ thể liên quan đến L, không tiếp cận người có chức vụ, quyền hạn để hỗ trợ giải quyết nên hành vi của T không cấu thành tội “Đưa hối lộ”.

[8]Về án phí hình sự sơ thẩm : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 174; điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đào S H 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05(năm) năm tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2.Về xử lý vật chứng : Căn cứ Điều 46, Điều 47, Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo ông Đặng V L 01 chiếc điện thoại di động 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 số sơ ri R58TC0YNG0B vỏ màu xanh.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số NK24/223TV ngày 03/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân)

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

(Chủ toạ đã giải thích chế định về án treo)

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKS ND TPHCM;
  • - Chi cục thi hành án quận Bình Tân;
  • - Công an quận Bình Tân;
  • - Viện kiểm sát quận Bình Tân;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - PV06 công an TPHCM;
  • - THA hình sự;
  • - Lưu, HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Tín

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 282/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 282/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đào S H 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05(năm) năm tính kể từ ngày tuyên án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger