Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 282/2024/DS-ST

Ngày: 23/9/2024.

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hồ Thị Kim Luyến
  2. Bà Nguyễn Lệ Huyền

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ: Bà Lê Hoàng Dung – Kiểm sát viên

Trong ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 649/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 562/2024/QĐXX-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 562 ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1 (Gọi tắt là: Ngân hàng)

Trụ sở: Số B, N, P. T, Q. H, TP ..

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L – Chủ tịch hội đồng quản trị

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

  • Ông Lê Tiến Đ sinh năm: 1978 (vắng mặt)
  • Bà Huỳnh Thị Mỹ D sinh năm: 1992 (xin giải quyết vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Lầu F, A T, P. A, Q. N, TP ..

-Bị đơn: Bà Đặng Thị Bé T sinh năm: 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: B T, khu V, khu dân cư H (KDC C - H cũ), P. A, quận N, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ D trình bày: Bà Đặng Thị Bé T và Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 đã cùng ký kết Hợp đồng cho vay số 109A/2020/HĐTD/PVB-PGDXKH ngày 19/08/2020, Hợp đồng cho vay số 109B/2020/HĐTD/PVB-PGDXKH Hợp đồng tín dụng ngày 19/08/2020 và Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 28/8/2020, cùng khế ước nhận nợ như sau:

  • + Hợp đồng cho vay số 109A/2020/HĐTD/PVB-PGDXKH ngày 20/8/2020, thời hạn vay/cấp hạn mức: 84 tháng, mục đích sử dụng vốn vay: Tiêu dùng có tài sản bảo đảm, số tiền thực tế giải ngân: 500.000.000 đồng, dư nợ gốc hiện tại: 357.128.000 đồng.
  • + Hợp đồng cho vay số 109B/2020/HĐTD/PVB-PGDXKH ngày: 20/8/2020, thời hạn vay/cấp hạn mức: 84 tháng, mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh trả góp: bán cà phê, nước giải khát, số tiền thực tế giải ngân: 1.000.000.000 đồng, dư nợ gốc hiện tại: 726.068.000 đồng.
  • + Thông tin dư nợ thẻ tín dụng của bà Bé T số 53874288****7456 theo Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 28/8/2020, tính đến ngày 14/6/2023, như sau: Số hợp đồng, số thẻ: 53874288****7456, hạn mức thẻ: 40.000.000 đồng, ngày phát hành: 11/9/2020, ngày hết hạn: 30/9/2023, tổng dư nợ (tạm tính đến 14/6/2023 là 18.475.269 đồng).

Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, bà Bé T đã ký Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 109/2020/HĐBĐ/PVB-PGDXKH ngày 19/08/2020 để thế chấp các tài sản cụ thể như sau:

  • + Quyền sử dụng đất: Tọa lạc tại: KDC C - H, khu vực I, phường A, Q. N, TP ., diện tích: 90m², thửa đất số: 1552, tờ bản đồ số: 35, hình thức sử dụng: Riêng 90m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị (90.00), thời hạn sử dụng: Lâu dài.
  • + Tài sản gắn liền với đất là: Nhà ở, diện tích xây dựng: 74.25m², diện tích sàn: 233.55m², kết cấu: Kiên cố, mái ngói, sàn BTCT, nền gạch C, tường riêng, H (cấp): nhà cấp 4, số tầng: 03.

Ghi chú: Đổi từ Giấy chứng nhận số CH01580 cấp ngày 14/9/2010 sang Giấy chứng nhận mới. Chiếu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BI 255168, số vào sổ cấp GCN: CH04852, do Ủy ban nhân dân N cấp ngày 27/07/2012. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận N, TP . ngày 19/8/2020.

Quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, bà Bé T đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. P đã gửi thông báo, công văn và làm việc trực tiếp yêu cầu bà Bé T trả nợ và bàn giao tài sản bảo đảm cho P xử lý theo quy định nhưng bà không thực hiện theo yêu cầu, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. P đã gửi thông báo khởi kiện đến khách hàng và các bên có liên quan theo đúng quy định. Đến nay, bà Bé T chỉ trả cho P số tiền cụ thể như sau:

  • + Hợp đồng cho vay số 109A/2020/HĐTD/PVB-PGDXKH nợ gốc đã trả: 142.872.000 đồng, nợ lãi đã trả: 102.819.868 đồng, tổng cổng: 245.691.868 đồng.
  • + Hợp đồng cho vay số 109B/2020/HĐTD/PVB-PGDXKH nợ gốc đã trả: 273.932.000 đồng, nợ lãi đã trả: 199.756.029 đồng, tổng cộng: 473.688.029 đồng.

Dư nợ tạm tính đến ngày 14/6/2023 của khoản vay bà Bé T như sau:

  • + Hợp đồng cho vay số 109A/2020/HĐTD/PVB-PGDXKH nợ gốc: 357.128.000 đồng, nợ lãi: 43.027.168 đồng, tổng cộng: 400.155.168 đồng.
  • + Hợp đồng cho vay số 109B/2020/HĐTD/PVB-PGDXKH nợ gốc: 726.068.000 đồng, nợ lãi: 94.761.763 đồng, tổng cộng: 820.829.763 đồng.

Dư nợ thẻ tín dụng của khách hàng Đặng Thị Bé T số 511962****9379 tạm tính đến ngày 14/6/2023. Hạn mức cấp thẻ: 40.000.000 đồng, thời hạn thẻ: 36 tháng, dư nợ hiện tại: 18.475.269 đồng, tổng cộng các khoản vay của bà Bé T như sau: Tổng nợ gốc: 1.083.196.000 đồng, tổng nợ lãi: 137.788.931 đồng, dư nợ thẻ tín dụng: 18.475.269 đồng, tổng cộng: 1.239.460.200 đồng.

Để bảo vệ quyền và lợi ích của P, nên P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Đặng Thị Bé T thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền: 1.239.460.200 đồng tạm tính đến ngày 27/11/2023 (Trong đó, nợ gốc: 1.083.196.000 đồng, nợ lãi: 227.783.918 đồng và dư nợ thẻ tín dụng là 20.345.707 đồng) và nợ lãi phát sinh từ ngày 28/11/2023 theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng cho đến khi bà Bé T thanh toán xong các khoản nợ.

Trong trường hợp bà Bé T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên và lãi phát sinh thì nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận và xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp QSDĐ và TSGLVĐ số 109/2020/HĐBĐ/PVB-PGDXKH ngày 19/08/2020 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BI255168, số vào sổ cấp GCN: CH04852, do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày 27/7/2012.

Tại đơn xin giải quyết vắng mặt và bản tự khai ngày 20/9/2024 đại diện nguyên đơn – bà Huỳnh Thị Mỹ D trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Đặng Thị Bé T thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền: 1.501.267.012 đồng tạm tính đến ngày 20/9/2024 (Trong đó, nợ gốc: 1.083.196.000 đồng, nợ lãi: 394.108.048 đồng và dư nợ thẻ tín dụng là 23.962.964 đồng) và nợ lãi phát sinh từ ngày 21/9/2024 theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng cho đến khi bà Bé T thanh toán xong các khoản nợ.

Trong trường hợp bà Bé T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên và lãi phát sinh thì nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận và xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp QSDĐ và TSGLVĐ số 109/2020/HĐBĐ/PVB-PGDXKH ngày 19/08/2020 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BI255168, số vào sổ cấp GCN: CH04852, do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày 27/7/2012.

Bị đơn bà Đặng Thị Bé T vắng mặt: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho bị đơn thông báo thụ lý, thông báo về việc tham gia phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 28/11/2023; ngày 07/3/2024 và ngày 15/7/2024 nhưng bị đơn vắng mặt. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên, ngày 12/7/2024 bị đơn bà Đặng Thị Bé T có đơn xin hoãn phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và trình bày: Bà thừa nhận các khoản nợ trong 2 hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng Đ1 mà bà đã ký. Trong quá trình vay do dịch Covid 19 nên bà làm ăn thua lỗ, không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng dẫn đến Ngân hàng khởi kiện. Do tình trạng sức khỏe chưa ổn nên xin tạm hoãn phiên họp đến ngày 15/10/2024 để bà thỏa thuận giá bán một số tài sản để thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng. Nếu hết thời hạn trên mà bà không thanh toán được các khoản nợ thì bà chấp nhận phán xử của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa,

  • - Đại diện nguyên đơn xin giải quyết vắng mặt và có ý kiến theo bản tự khai ngày 20/9/2024.
  • - Bị đơn vắng mặt không có ý kiến gì thêm.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng:

  • + Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp.
  • + Đối với đương sự: Đại diện nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt. Nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt đại diện nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1.

Buộc bị đơn bà Đặng Thị Bé T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 tạm tính đến ngày 20/9/2024 là: 1.501.267.012 đồng (Trong đó, nợ gốc: 1.083.196.000 đồng, nợ lãi: 394.108.048 đồng và dư nợ thẻ tín dụng là 23.962.964 đồng) và nợ lãi phát sinh từ ngày 21/9/2024 theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng cho đến khi bà Bé T thanh toán xong các khoản nợ.

Trong trường hợp bà Bé T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên và lãi phát sinh hoặc thanh toán không đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp QSDĐ và TSGLVĐ số 109/2020/HĐBĐ/PVB-PGDXKH ngày 19/08/2020 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BI255168, số vào sổ cấp GCN: CH04852, do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày 27/7/2012, tài sản là:

Quyền sử dụng đất: Tọa lạc tại: KDC C - H, khu vực I, phường A, Q. N, TP ., diện tích: 90m², thửa đất số: 1552, tờ bản đồ số: 35, hình thức sử dụng: Riêng 90m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị (90.00), thời hạn sử dụng: Lâu dài; Tài sản gắn liền với đất là: Nhà ở, diện tích xây dựng: 74.25m², diện tích sàn: 233.55m², kết cấu: Kiên cố, mái ngói, sàn BTCT, nền gạch C, tường riêng, H (cấp): nhà cấp 4, số tầng: 03.

Về chi phí thẩm định và án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Ngân hàng TMCP Đ1 (Gọi tắt: Ngân hàng) và bà Đặng Thị Bé T có ký kết các Hợp đồng cho vay (Hợp đồng tín dụng), mục đích: vay tiêu dùng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Bé T không thực hiện theo đúng theo thỏa thuận nên Ngân hàng có đơn khởi kiện nên quan hệ pháp luật được xác định là "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng", bà Bé T cư trú tại quận N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,

2] Về tố tụng: Bị đơn bà Đặng Thị Bé T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên tòa ngày 26/8/2024 và ngày 23/9/2024 theo địa chỉ nêu trên nhưng bà vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

3] Về nội dung:

- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền: 1.501.267.012 đồng tạm tính đến ngày 20/9/2024 (Trong đó, nợ gốc: 1.083.196.000 đồng, nợ lãi: 394.108.048 đồng và dư nợ thẻ tín dụng là 23.962.964 đồng) và nợ lãi phát sinh từ ngày 21/9/2024 theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng cho đến khi bà Bé T thanh toán xong các khoản nợ.

Nhận thấy, giữa Ngân hàng và bà Đặng Thị Bé T đã ký Hợp đồng cho vay số 109A/2020/HĐTD/PVB-PGDXKH ngày 19/08/2020, Hợp đồng cho vay số 109B/2020/HĐTD/PVB-PGDXKH Hợp đồng tín dụng ngày 19/08/2020 và Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 28/8/2020, cùng khế ước nhận nợ như sau:

  • + Hợp đồng cho vay số 109A/2020/HĐTD/PVB-PGDXKH ngày 20/8/2020, thời hạn vay/cấp hạn mức: 84 tháng, lãi suất trong hạn: 8.99%/năm và điều chỉnh lãi suất theo quy định tại mỗi khế ước nhận nợ, lãi quá hạn: 150% lãi trong hạn; lãi chậm trả: 10%/năm; mục đích sử dụng vốn vay: Tiêu dùng có tài sản bảo đảm, số tiền thực tế giải ngân: 500.000.000 đồng, dư nợ gốc tính đến ngày 20/9/2024: 357.128.000 đồng, lãi:127.985.932 đồng.
  • + Hợp đồng cho vay số 109B/2020/HĐTD/PVB-PGDXKH ngày: 20/8/2020, thời hạn vay/cấp hạn mức: 84 tháng, lãi suất trong hạn: 8.99%/năm và điều chỉnh lãi suất theo quy định tại mỗi khế ước nhận nợ, lãi quá hạn: 150% lãi trong hạn; lãi chậm trả: 10%/năm; mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh trả góp: bán cà phê, nước giải khát, số tiền thực tế giải ngân:1.000.000.000 đồng, dự nợ gốc tính đến 20/9/2024: 726.068.000 đồng, lãi: 266.122.116 đồng.
  • + Thông tin dư nợ thẻ tín dụng của bà Bé T số 53874288****7456 theo Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 28/8/2020, tính đến ngày 14/6/2023, như sau: Số hợp đồng, số thẻ: 53874288****7456, hạn mức thẻ: 40.000.000 đồng, ngày phát hành: 11/9/2020, ngày hết hạn: 30/9/2023, tổng dư nợ tính đến ngày 20/9/2024: 23.962.964 đồng.

Xét thấy, bị đơn không thực hiện đúng theo thỏa thuận và cam kết tại các Hợp đồng cho vay và thẻ tín dụng nêu trên. Ngân hàng đã làm việc trực tiếp, nhiều lần liên hệ và gửi thông báo nợ quá hạn cho bà Bé T và đã tạo điều kiện nhiều lần nhưng bà Bé T chưa thanh toán số tiền nợ theo các hợp đồng nêu trên. Bà đã vi phạm thỏa thuận về việc trả nợ gốc theo thỏa thuận tại Điều 3 của các Hợp đồng cho vay mà các bên đã ký kết nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Bé T trả tổng số tiền nợ gốc: 1.083.196.000 đồng và dư nợ thẻ tín dụng: 23.962.964 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, có căn cứ chấp nhận.

- Đối với yêu cầu lãi suất: Nhận thấy, theo Hợp đồng cho vay thể hiện: Lãi suất trong hạn hai bên thỏa thuận là 8.99%/năm và điều chỉnh lãi suất theo quy định tại mỗi khế ước nhận nợ, lãi quá hạn: 150% lãi trong hạn; lãi chậm trả: 10%/năm. Như vậy, mức lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả tổng số tiền nợ lãi: 394.108.048 đồng theo các Hợp đồng cho vay là có cơ sở chấp nhận theo thỏa thuận tại Điều 2 của Hợp đồng cho vay và quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Mặt khác, tại đơn xin hoãn phiên họp ngày 12/7/2024, bà Bé T đã thừa nhận các khoản nợ theo các Hợp đồng đã được ký kết giữa Ngân hàng và bà. Bà đồng ý trả nợ cho Ngân hàng nhưng do làm ăn khó khăn nên xin thời gian đến 15/10/2024 để trả nợ nhưng nguyên đơn không đồng ý và Tòa án đã tạo điều kiện về mặt thời gian nhiều lần để bà trả nợ nhưng bà đã vi phạm nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Từ những chứng cứ và phân tích nêu trên cho thấy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Bé T trả nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 20/9/2024 với tổng số tiền: 1.501.267.012 đồng (Trong đó, nợ gốc: 1.083.196.000 đồng, nợ lãi: 394.108.048 đồng và dư nợ thẻ tín dụng là 23.962.964 đồng) và lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 21/9/2024 theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng cho đến khi bà Bé T thanh toán xong các khoản nợ là có căn cứ chấp nhận.

- Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho các hợp đồng cho vay nêu trên, bà Bé T đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 109/2020/HĐBĐ/PVB-PGDXKH ngày 19/08/2020 với Ngân hàng để thế chấp các tài sản cụ thể như sau:

  • + Quyền sử dụng đất: Tọa lạc tại: KDC C - H, khu vực I, phường A, Q. N, TP ., diện tích: 90m², thửa đất số: 1552, tờ bản đồ số: 35, hình thức sử dụng: Riêng 90m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị (90.00), thời hạn sử dụng: Lâu dài.
  • + Tài sản gắn liền với đất là: Nhà ở, diện tích xây dựng: 74.25m², diện tích sàn: 233.55m², kết cấu: Kiên cố, mái ngói, sàn BTCT, nền gạch C, tường riêng, H (cấp): nhà cấp 4, số tầng: 03.

Xét thấy, giữa Ngân hàng và bà Bé T đã ký hợp đồng thế chấp về việc thế chấp tài sản nêu trên, được Văn phòng C1 ngày 19/8/2020. Đồng thời, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên ngày 19/8/2020. Tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng và sở hữu của bà Đặng Thị Bé T. Hiện nay do bà Bé T quản lý sử dụng theo biên bản thẩm định ngày 12/01/2024.

Do đó, giao dịch thế chấp giữa các bên là phù hợp theo quy định tại Điều 319 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013. Tuy nhiên, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu trong trường hợp bị đơn không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thể chấp nêu trên của bà Đặng Thị Bé T để thu hồi nợ theo quy định tại Điều 7 Hợp đồng thế chấp và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

- Về chi phí thẩm định: Bị đơn phải chịu 5.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng, đã chi xong. Nên bị đơn phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền trên

-Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • + Bị đơn phải chịu 57.038.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • + Nguyên đơn được nhận lại 24.592.000 đồng tiền tạm ứng án phi đã nộp theo biên lai thu số 0000006 ngày 18/8/2023 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều.

Do đó, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: - Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011.

- Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng.

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1

Buộc bị đơn bà Đặng Thị Bé T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 tạm tính đến ngày 20/9/2024 với tổng số tiền là: 1.501.267.012 đồng (Một tỷ, năm trăm lẻ một triệu, hai trăm sáu mươi bảy nghìn, không trăm mười hai đồng) [Trong đó, nợ gốc: 1.083.196.000 đồng (Một tỷ, không trăm tám mươi ba triệu, một trăm chín mươi sáu nghìn đồng), nợ lãi: 394.108.048 đồng (Ba trăm chín mươi bốn triệu, một trăm lẻ tám nghìn, không trăm bốn mươi tám đồng) và dư nợ thẻ tín dụng là 23.962.964 đồng (Hai mươi ba triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn, chín trăm sáu mươi bốn đồng) ] và lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 21/9/2024 theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng cho đến khi bà Bé T thanh toán xong các khoản nợ.

Trong trường hợp bà Bé T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên và lãi phát sinh hoặc thanh toán không đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp QSDĐ và TSGLVĐ số 109/2020/HĐBĐ/PVB-PGDXKH ngày 19/08/2020 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BI255168, số vào sổ cấp GCN: CH04852, do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày 27/7/2012, tài sản là:

Quyền sử dụng đất: Tọa lạc tại: KDC C - H, khu vực I, phường A, Q. N, TP ., diện tích: 90m², thửa đất số: 1552, tờ bản đồ số: 35, hình thức sử dụng: Riêng 90m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị (90.00), thời hạn sử dụng: Lâu dài; Tài sản gắn liền với đất là: Nhà ở, diện tích xây dựng: 74.25m², diện tích sàn: 233.55m², kết cấu: Kiên cố, mái ngói, sàn BTCT, nền gạch C, tường riêng, H (cấp): nhà cấp 4, số tầng: 03.

Về chi phí thẩm định: Bị đơn phải chịu 5.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng, đã chi xong. Nên bị đơn phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền trên.

-Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Đặng Thị Bé T phải chịu 57.038.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 được nhận lại 24.592.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000006 ngày 18/8/2023 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều.

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

*Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q.Ninh Kiều;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q.Ninh Kiều
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Yến Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 282/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 282/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc bị đơn bà Đặng Thị Bé T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 tạm tính đến ngày 20/9/2024 với tổng số tiền là: 1.501.267.012 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger