|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 282/2024/HS-ST Ngày 09 - 08 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Tiếp.
Ông Lê Cát Tưởng.
- Thư ký phiên toà:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Hà Thị Yến - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Thế Q - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Trịnh Công S - Kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Văn Q1 - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành p, tỉnh Thanh Hoá (điểm cầu trung tâm), Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hoá (điểm cầu thành phần), xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 286/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 06 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 319/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 07 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thế N; sinh ngày 11 tháng 11 năm 1978; tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Chí P (đã chết); con bà: Bùi Thị Đ; Gia đình có ba chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền án: không; tiền sự: Không;
Nhân thân:
Năm 2004 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành sử dụng trái phép chất ma túy.
Năm 2010 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành sử dụng trái phép chất ma túy.
Năm 2016 bị Công an phường N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 27/6/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/9/2018, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 21/8/2018);
Tạm giữ, tạm giam: Bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 20/3/2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Tuấn T, sinh năm 1987
Nơi cư trú: Số nhà D N, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 11/3/2024, Tổ công tác Công an phường P đang làm nhiệm vụ trên khu vực hồ Đ thuộc phường P, thành phố T phát hiện Nguyễn Tuấn T SN 1979 ở địa chỉ số nhà D N, phường P, thành phố T có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ, T khai nhận vừa sử dụng heroine bằng hình thức tiêm chích, sau khi sử dụng T nhìn thấy tổ công tác nên đã vứt vỏ xilanh xuống hồ Đ. Sau đó Tổ công tác đưa T về trụ sở Công an phường P để làm việc. Làm việc với Cơ quan Công an, T khai nhận do nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ ngày 11/3/2024 T đi bộ một mình ra khu vực đường T, phố T, phường Q, thành phố T thì gặp Nguyễn Thế N. T hỏi mua của N 01 gói heroine với giá 600.000đ thì N đồng ý. Sau khi mua ma túy của N thì T mang về khu vực hồ Đ để sử dụng. Khi vừa sử dụng hết heroine thì bị kiểm tra, phát hiện.
Đến 13 giờ 10 phút cùng ngày, nghe tin T bị Công an phường P phát hiện sử dụng ma túy, biết việc mình bán ma túy cho T không thể che giấu nên N đã đến Công an phường P đầu thú về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Tuấn T và giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 600.000đ là tiền thu được từ việc Nam bán ma túy cho T. Qua lời khai của Nguyễn Thế N và tài liệu chứng cứ khác thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám xét nơi ở của N tại phố T, phường Q, thành phố T thu giữ 01 túi nilong màu trắng, kích thước 3 x 5 cm, bên trong có 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng và 02 gói giấy màu vàng đều bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 cục bột màu trắng. Đối với số chất bột màu trắng thu giữ tại nhà của N, N khai nhận số chất bột màu trắng này là ma túy (heroine) của N, N cất giấu ở trong nhà để khi ai hỏi mua ma túy thì sẽ bán kiếm lời.
Qúa trình điều tra xác định ngày 09/3/2024 N đi ra khu vực gầm cầu N gặp một người đàn ông (N không biết tên tuổi cụ thể và địa chỉ ở đâu). N hỏi mua của người này heroine với giá 2.000.000đ. Sau đó người đàn ông này đưa
cho N 01 túi heroine và lấy của N số tiền 2.000.000đ, N đưa tiền cho người đàn ông này và mang túi heroine về nhà cất giấu rồi chia nhỏ thành các gói để bán kiếm lời khi có ai hỏi mua. Đến khoảng 12 giờ ngày 11/3/2024, N đã bán cho Nguyễn Tuấn T 01 gói heroine với giá 600.000đ tại đường T, phố T, phường Q, thành phố T.
Tại Bản kết luận giám định số 1087/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
“Chất bột màu trắng trong các gói giấy màu trắng, vàng và cục bột màu trắng trong phong bì niêm phong gửi đi giám định thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Thế N có khối lượng 1,781 g loại Heroine”.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho N không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực gầm cầu N. Ngoài lời khai của N không còn tài liệu nào khác nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xác minh, xử lý đối tượng này theo quy định.
Đối với Nguyễn Tuấn T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng. T khai nhận sau khi sử dụng ma túy đã ném vỏ ống xilanh và vỏ giấy màu vàng đựng heroine xuống hồ Đ. Cơ quan CSĐT đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được. Vì vậy không có căn cứ để xử lý Nguyễn Tuấn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan CSĐT ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Tuấn T là phù hợp.
Quá trình điều tra Nguyễn Thế N đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được.
Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Đối với số tiền 600.000 đồng cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ của Nguyễn Thế N là tiền N bán ma túy cho T mà có và toàn bộ số ma túy trong phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 215/CT-VKSTPTH ngày 17 tháng 06 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Thế N về tội “mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đồng ý và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định, đồng ý với toàn bộ quan điểm và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát
Quá trình điều tra người làm chứng anh Nguyễn Tuấn T trình bày phù hợp với lời khai của bị cáo, nội dung bản cáo trạng.
Đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS để xử phạt Nguyễn Thế N mức án từ 39 (ba mươi chín) tháng đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS):
- - Tịch thu tiêu hủy khối lượng Heroine thu giữ của N còn lại sau giám định;
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 600.000 đồng là tiền N đã bán ma túy cho T, là số tiền phạm tội mà có.
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị cáo xklh T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáohgk có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Vào khoảng 12 giờ ngày 11/3/2024 tại đường T, phường Q, thành phố T, Nguyễn Thế N đã bán trái phép 01 gói heroine cho Nguyễn Tuấn T để lấy số tiền 600.000đ. Ngoài ra N cất giấu 1,781 gam heroine với mục đích để bán kiếm lời.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là heroine của Nguyễn Thế N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật hình sự.
Bị cáo nhận thức được việc “mua bán trái phép chất ma tuý” là vi phạm
pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Ý thức chủ quan của bị cáo là mua bán ma tuý để kiếm lời nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã có hành vi phạm vào khoản 1 Điều 251 BLHS như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá là đúng.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ như sau: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện ra đầu thú và có bố bị cáo tham gia phục vụ trong quân đội được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, mẹ bị cáo được tặng huy chương vì có thành tích trong sự nghiệp giáo dục nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[4] Tuy nhiên, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an và an toàn xã hội tại địa phương, xâm phạm đến quyền chính sách độc quyền về quản lý ma túy của nhà nước và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, bị cáo có nhân thân xấu, đã hai lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, một lần bị xử phạt hành chính và một lần bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản. Nên cần xét xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam sẽ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt.
[5] Do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng:
- + Số tiền 600.000 đồng là tiền N đã bán ma túy cho T, là số tiền phạm tội mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- + Khối lượng Heroine thu giữ của N còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
[7] Các đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là có căn cứ, nên chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Điều 331, Điều 332, Điều 333
BLTTHS; Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế N phạm tội “mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Nguyễn Thế N 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 11/03/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy khối lượng Heroine thu giữ của N còn lại sau giám định;
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 600.000 đồng.
Vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố T theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 174/2024/THA ngày 26/06/2024 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá.
Án phí: Bị cáo Nguyễn Thế N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Tân |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Mai Thị Tiếp |
Lê Cát Tưởng |
Nguyễn Thanh Tân |
Bản án số 282/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 282/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma tuý
