|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 282/2023/HS-ST Ngày: 05/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Diệp.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Cần;
- Ông Tống Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 288/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Đ T V
sinh năm 2000, tại Đồng Tháp; thường trú: số 1 ấp T, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông C V A và bà Đ H T; bị cáo chưa có vợ, con; V án, V sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2023 cho đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà L P, sinh năm 1997; thường trú: thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
Người làm chứng:
- - Ông P H, sinh năm 2001; vắng mặt.
- - Ông Đ C, sinh năm 1996; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đ T V là đối tượng nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Khoảng 17 giờ 30 ngày 13/05/2023, khi V đang ở phòng trọ của V thuộc phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng và bán lại cho các đối tượng sử dụng ma túy khác nên V sử dụng điện thoại gọi điện cho người thanh niên (không rõ nhân thân) hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy, người này đồng ý và hẹn giao ma túy tại cầu P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. V điều khiển xe mô tô biển số 66B1-652.75 chạy đến quán cà phê gần cầu Phú Cường ngồi chờ, khoảng 30 phút sau người này gọi điện thoại cho V, V điều khiển xe chạy ra cầu Phú Cường, người này đưa cho V 01 túi nylon bên trong chứa ma túy, V đưa 1.500.000 đồng. Sau đó, V điều khiển xe đi về phòng trọ của V, V lấy một ít ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại V chia ra thành 01 gói nylon và 08 đoạn ống hút hàn kín hai đầu bỏ vào trong túi vải màu đen của V. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Beo (không rõ nhân thân) điện thoại cho V hỏi mua 400.000 đồng ma túy, V đồng ý và hẹn giao ma túy ở đường D8 thuộc khu phố 2, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. V lấy túi vải màu đen chứa ma túy đeo trên người rồi điều khiển xe mô tô biển số 66B1-652.75 chạy đến đoạn đường D8 thuộc, khu phố 2, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương để bán ma túy cho Beo thì bị tổ tuần tra Công an phường V phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi vải màu đen của V có 01 gói nylon hàn kín và 08 đoạn ống hút hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Tổ tuần tra tiến hành lập biên bản và niêm phong tang vật rồi đưa V về trụ để làm việc. Qua làm việc, V khai nhận số ma túy thu giữ là của V cất giấu nhằm mục đích để bán cho các đối tượng sử dụng ma túy nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Công an phường V tạm giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23, đã qua sử dụng, 01 xe mô tô biển số 66B1-652.75, nhãn hiệu Yamaha loại xe Exciter, màu sơn xám đen cam, số khung: RLCUG1010KY193519, số máy: G3D4E-962558 đã qua sử dụng.
Công an phường V bàn giao V cùng hồ sơ, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên thụ lý theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số 264/MT-PC09 ngày 19/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: mẫu tinh thể Công an thu giữ của Đ T V gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng: 1,3770 gam.
Cáo trạng số 303/CT-VKS.TU ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo Đ T V về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đ T V 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 46 và 47 Bộ luật Hình sự, tuyên: tịch thu, tiêu hủy chất ma túy Methaphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); đối với 01 điện thoại di động Nokia, màu đen, đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo V. Đối với 01 xe mô tô biển số 66B1-652.75, nhãn hiệu Yamaha loại xe Exciter do bà L P đứng tên chủ sở hữu; ngày 13/5/2023, V sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy, bà Phụng không biết nên ngày 10/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 92 trả lại xe mô tô cho bà Phụng nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L P và người làm chứng ông P H, ông Đ C được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình điều tra, những người này đã có lời khai, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà P, ông H và ông C.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo tại cơ quan điều tra, trước sau thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội cũng như tang vật chứng thu giữ trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: ngày 13/5/2023 tại đường D8 thuộc, khu phố 1, phường Vĩnh Tân, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, bị cáo Đ T V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 1,3770 gam nhằm mục đích để bán cho các đối tượng sử dụng ma túy. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi nên đã cố ý phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[5] Về nhân thân: bị cáo là người nghiện ma túy cho thấy bị cáo có nhân thân xâu.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.
[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: đối với chất ma túy loại Methaphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là chất cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy, đối với 01 điện thoại di động Nokia màu đen, đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen vì không liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với xe mô tô biển số 66B1-652.75, nhãn hiệu Yamaha loại xe Exciter do bà L P đứng tên chủ sở hữu, bị cáo V sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy bà Phụng không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 92 trả lại xe cho bà Phụng là phù hợp.
[10] Về án phí sơ thẩm: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đ T V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm hình sự: căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 46, 47 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy chất ma túy loại Methaphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) được đựng trong bì thư niêm phong ký hiệu số 264/PC09.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA-1174 màu đen, số imeil: 357743100999238;
- - Trả lại cho bị cáo Đ T V 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số imei: 354491/51/023738/4.
- (Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/10/2023).
- Về án phí: căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đ T V phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Đ T V 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2023.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hương Diệp |
Bản án số 282/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 282/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
