Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 282/2024/HNGĐ-ST

Ngày 03 tháng 5 năm 2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Lai.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thuy
  2. Bà Lương Thị Phương

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 612/TLST- HNGĐ ngày 11/10/2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2024/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Lan A, sinh năm 1985.

Nơi đăng ký hộ khẩu : Số nhà 22 Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Nơi ở: Số nhà 40N ngõ 366 phố Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trịnh Hữu Đức (Công ty Luật TNHH Trí An V Nam- Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội).

Bị đơn: Anh Trần Quốc V, sinh năm 1979.

Nơi đăng ký hộ khẩu và nơi ở: Số nhà 22 Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

(Chị Lan A có mặt, anh V vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/8/2023 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án của chị Trịnh Thị Lan A cũng như tại phiên tòa chị Trịnh Thị Lan A trình bày:

Chị và anh Trần Quốc V tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ngày 28/3/2011. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống tại số 22 phố Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, đây là nhà của bố mẹ anh V.

Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến khoảng năm 2011 khi chị đang mang bầu con lớn thì phát sinh mâu thuẫn do anh V vẫn còn tình cảm với người yêu cũ (thỉnh thoảng vẫn liên hệ), chị biết được việc này là do đọc được tin nhắn qua điện thoại của anh V, mặt khác chị và anh V có những bất đồng quan điểm sống trong mọi mặt, ví dụ như: Quan điểm của chị là kinh tế của vợ chồng phải quy về một mối, vợ chồng phải đồng lòng, đồng sức, tuy nhiên anh V có quan điểm là tiền của ai người đó tiêu, không có sự đóng góp xây dựng nền tảng kinh tế chung; Về gia đình: Anh V không hề chủ động quan tâm đến bố mẹ chị, cách quan tâm đối với gia đình nhà vợ không được chu đáo ...những mâu thuẫn vẫn diễn ra cho đến nay.

Anh V không bạo hành, đánh đập chị bằng vũ lực nhưng những hành động của anh V như văng tục, chửi bậy ở mọi nơi ở nhà cũng như ở ngoài đường đã xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của chị.

Khi ở chung với bố mẹ chồng, bản thân chị không có mâu thuẫn với bố mẹ chồng.

Mâu thuẫn của chị và anh V kéo dài từ cuối năm 2011 đến hiện nay.

Đến tháng 4 năm 2023 đến nay chị và hai con chuyển về nhà bố mẹ đẻ của chị tại số 40 N ngõ 366 phố Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội để sinh sống. Trước khi chuyển sang nhà ngoại, chị có nhắn tin với mẹ chồng qua điện thoại, vì nếu chị nói chuyện trực tiếp với mẹ chồng thì cảm xúc của chị không ổn định, chị chỉ khóc và không nói được nên chị phải nhắn tin cho mẹ chồng mới truyền tải được nhiều thông tin.

Mẹ chồng chị thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị nên cũng khuyên giải chị là nghĩ lại để vợ chồng về đoàn tụ.

Do chị làm việc trong cơ quan nhà nước nên chị luôn muốn duy trì một môi trường sống văn minh cho các con và gia đình, do đó chị và anh V không thể hiện mâu thuẫn ra ngoài, nếu có vấn đề thì chị chỉ nhắn tin hoặc viết gmail gửi cho anh V, chị không muốn vạch áo cho người xem lưng để giữ hình tượng bên ngoài.

Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, chị đã nhiều lần nói chuyện với chồng để khắc phục mâu thuẫn nhưng không được.

Thời gian chị và 02 con sang bên nhà ngoại, anh V có sang trực tiếp một lần nhưng không gặp chị và có nhắn tin và gọi điện trong thời gian đầu bảo chị quay về để đoàn tụ nhưng chị không đồng ý do đó thời gian gần đây khi chị nhắn tin anh V chỉ nhận và không phản hồi lại.

Anh V làm kinh doanh bên ngoài và hiện nay vẫn đang sinh sống tại số nhà 22 phố Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có nên chị xin ly hôn anh V. Đề nghị Toà án cho chị ly hôn anh V.

Về con: Chị và anh V có 02 con chung là Trần Nhất Anh, sinh ngày 03/01/2012 và Trần Trường An, sinh ngày 26/02/2018.

Chị đề nghị mỗi người nuôi một con chung, chị xin chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Trần Nhất Anh. Anh V chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Trường An. Hai bên không phải đóng góp tiền nuôi con chung cho nhau.

Chị đang làm nhà báo ở Tạp chí Thanh tra của Thanh tra Chính Phủ, thu nhập ổn định đủ điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung.

Anh V cũng có nghề nghiệp ổn định và đủ điều kiện để chăm sóc con chung.

Về tài sản chung: Chị và anh V không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Chị và anh V không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Quốc V: Được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên anh V không đến Tòa án nên không có lời khai của anh V.

Tại phiên tòa:

Chị Lan A trình bày: Trước khi chị làm đơn xin ly hôn, anh V cũng trao đổi với chị là anh đồng ý thuận tình ly hôn với điều kiện mỗi người nuôi một con, khi đó chị đồng ý để anh V nuôi một con. Tuy nhiên, sau đó anh V không đồng ý thuận tình ly hôn nên chị đã đơn phương xin ly hôn.

Nay trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh V không đến Toà án trình bày quan điểm, nguyện vọng. Mặt khác, hai con đang do chị chăm sóc nuôi dưỡng, các cháu vẫn khoẻ mạnh, chị có đủ điều kiện về mọi mặt nên chị có nguyện vọng nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh V đóng góp nuôi con.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chị Lan A sau khi trình bày các căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lan A. Giao hai con chung cho chị Lan A nuôi dưỡng, chị Lan A không yêu cầu anh V đóng góp nuôi con. Về tài sản, nhà ở không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Lan A và anh V đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lan A, cho chị Lan A ly hôn anh V.

Về con chung: Chị Lan A và anh V có 02 con chung là Trần Nhất Anh, sinh ngày 03/01/2012 và Trần Trường An, sinh ngày 26/02/2018. Hiện nay hai con đang do chị Lan A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên để bảo bảm quyền lợi ích của các con, đề nghị giao cả hai con chung cho chị Lan A nuôi dưỡng, chị Lan A không yêu cầu anh V đóng góp nuôi con.

Tài sản chung không yêu cầu giải quyết. Chị Lan A phải chịu án phí theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về việc vắng mặt đương sự:

    Anh Trần Quốc V đã được niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh V vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, việc vắng mặt của anh V được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra ý kiến chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

  2. Về nội dung:

    Chị Trịnh Thị Lan A và anh Trần Quốc V kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ngày 28/3/2011. Đây là hôn nhân hợp pháp.

    Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay, chị Lan A và hai con về nhà mẹ đẻ ở. Nay chị Lan A xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh V.

    Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần niêm yết các văn bản tố tụng yêu cầu anh V đến Tòa án nhưng anh V đều vắng mặt do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được.

    Xét thấy, cuộc hôn nhân của chị Lan A và anh V không có khả năng hàn gắn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Lan A ly hôn anh V.

    Về con chung: Chị Lan A và anh V có 02 con chung là Trần Nhất Anh, sinh ngày 03/01/2012 và Trần Trường An, sinh ngày 26/02/2018.

    Quá trình giải quyết vụ án, chị Lan A đề nghị mỗi người nuôi một con. Tại phiên toà chị Lan A xin nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh V đóng góp nuôi con.

    Xét thấy, việc giao con chung cho ai chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền và lợi ích của con, hai con của anh chị hiện nay đang do chị Lan A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu Trần Nhất Anh có nguyện vọng được ở với mẹ, cháu Trần Trường An mới 06 tuổi. Anh V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có căn cứ để giao con cho anh V nuôi dưỡng. Do đó giao hai con cho chị Lan A chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Tạm hoãn việc đóng góp tiền nuôi con chung đối với anh V cho đến khi chị Lan A có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.

    Anh V có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

    Về tài sản và nhà ở: Chị Lan A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

    Về án phí: Chị Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

    Về quyền kháng cáo: Chị Lan A có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh V vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và Luật sư tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56, 58; 59; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng các Điều 28; 144; 147; 227; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trịnh Thị Lan A.

    Chị Trịnh Thị Lan A ly hôn anh Trần Quốc V.

  2. Về con chung: Chị Trịnh Thị Lan A và anh Trần Quốc V có 02 con chung là Trần Nhất Anh, sinh ngày 03/01/2012 và Trần Trường An, sinh ngày 26/02/2018.

    Giao hai con chung Trần Nhất Anh, sinh ngày 03/01/2012 và Trần Trường An, sinh ngày 26/02/2018 cho chị Lan A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Tạm hoãn việc đóng góp tiền nuôi con chung đối với anh Trần Quốc V cho đến khi chị Trịnh Thị Lan A có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.

    Anh Trần Quốc V có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  3. Về tài sản và nhà ở: Chị Trịnh Thị Lan A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Trịnh Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Trịnh Thị Lan A đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008306 ngày 11/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.
  5. Về quyền kháng cáo:

    Chị Trịnh Thị Lan A có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Anh Trần Quốc V vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THA DS quận Ba Đình;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - UBND phường Trúc Bạch;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 282/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 282/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger