Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 282/2025/HS-ST

Ngày: 27-11-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
  2. Bà Châu Thị Lệ

- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Vũ Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Quách Diệp Nguyệt T - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 876/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 921/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ tên: Đỗ Thị L; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 27 tháng 07 năm 1971 tại: Bắc Giang; CCCD: [...] ngày cấp 18/9/2024, nơi cấp Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Nơi thường trú: số nhà B, ngõ G đường T, phường T, Thành phố B (nay là phường B, tỉnh Bắc Ninh); Nơi ở hiện nay: 6 đường T, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đỗ Tiến N (chết); Con bà: Cao Thị T1, sinh năm 1951; Chồng: Lê Xuân T2, sinh năm 1966; Con: có 02 con lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1992.

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 31/5/2022 Trưởng Công an quận G ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi bán số lô, số đề, bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề, giao lại cho người khác để hưởng hoa hồng. Đã nộp phạt ngày 31/5/2022.

Bị cáo bị bắt ngày 08/5/2025 đến ngày 14/5/2025 thay đổi biện pháp ngăn chặn thành cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Huỳnh Khắc T3 là Luật sư thuộc đoàn luật sư Thành phố H; Địa chỉ: C T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người làm chứng: ông Nguyễn Quốc V (vắng mặt);

Địa chỉ: E đường P, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 17 giờ 00 ngày 08/5/2025, Công an phường A, quận G (nay là phường A, TP .) kiểm tra tại nhà số: 6 T, phường A, TP . Hồ Chí Minh phát hiện Đỗ Thị L đang bán số đề thắng thua bằng tiền cho Nguyễn Quốc V (sinh năm 1968, HKTT: B P, P. B, quận A, Thành phố. Hồ Chí Minh; chỗ ở: E P, phường A, quận T, Thành phố. Hồ Chí Minh) nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Thị L khai nhận: Khoảng tháng 4/2025, từ khoảng 13 giờ đến khoảng 20 giờ hằng ngày, L bắt đầu ngồi tại nhà số: 6 T, phường A1 (Phường A, quận G cũ) để bán số đề thắng thua bằng tiền cho khách vãng lai dựa trên kết quả xổ số của các công ty xổ số kiến thiết trong ngày (miền N, miền T và miền B). Khi con bạc đến mua số đề thì L sẽ ghi thông tin và số tiền mua đề vào 01 tờ phơi có 02 liên. Khi tính tiền thì L sẽ trừ cho khách 20% trên tổng số tiền mua số đề (gọi là trừ tiền hoa hồng). Sau đó, L đưa cho con bạc giữ 01 liên tờ phơi và nhận tiền mua số đề của con bạc. Đến khi có kết quả xổ số, nếu con bạc thắng thì cầm tờ phơi đề đến gặp L để đối chiếu rồi thanh toán tiền trúng số đề trực tiếp cho con bạc, sau đó thì L vứt bỏ tất cả phơi đề trong ngày. L quy ước ăn thua với tỉ lệ trúng thưởng với con bạc như sau:

  • - Số đề 02 con số: tỷ lệ là 01 ăn 74 lần (1.000 đồng ăn 74.000 đồng)
  • - Số đề 03 con số: tỷ lệ là 01 ăn 630 lần (1.000 đồng ăn 630.000 đồng)
  • - Số đề 04 con số: tỷ lệ là 01 ăn 5.000 lần (1.000 đồng ăn 5.000.000 đồng)
  • - Số đá (đài miền N và miền T) tỷ lệ là 01 ăn 530 lần (tương đương 1.000 đồng ăn 530.000 đồng)
  • - Số đá (đài miền B) tỷ lệ là 01 ăn 630 lần (tương đương 1.000 đồng ăn 630.000 đồng).

Khoảng 17 giờ ngày 08/5/2025, L đã bán số đề cho nhiều đối tượng (không rõ lai lịch) được tổng cộng 17 tờ phơi để (trong đó có 12 tờ phơi đề miền N và 05 tờ phơi đề miền T) và có Nguyễn Quốc V đến mua các con số đề theo Đài miền T, gồm: Số F, hình thức bao lô đài Bình Định, với số tiền mỗi lô là 7.000 đồng, tổng cộng 126.000 đồng, Số 42, hình thức Bao lô, 02 đài (Quảng Bình, Quảng Trị), với số tiền mỗi lô là 5.000 đồng, tổng cộng 180.000 đồng, Số 42, 82, hình thức Đá, 02 đài (Quảng Bình, Quảng Trị), với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng 172.000 đồng. Tổng cộng, V mua số đề với tổng số tiền 378.000 đồng. Sau khi được L trừ tiền hoa hồng thì V phải trả số tiền 302.000 đồng, nhưng L lấy chẵn tiền là 300.000 đồng. Sau đó, L ghi các con số đề nêu trên vào 01 tờ phơi đề rồi đưa cho V 01 liên màu hồng và nhận số tiền 300.000 đồng của V đưa. Đúng lúc này thì bị Công an phường A, quận G kiểm tra, bắt quả tang như nêu trên.

Quá trình điều tra, xác định trong ngày 08/5/2025, L đã bán số đề cho các con bạc thể hiện trên 17 tờ phơi đề, cụ thể như sau:

  • - M (Tây Ninh - An Giang - Bình Thuận):
  • - Tờ phơi số 01: Số B, 68, hình thức Đ, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 72.000 đồng; Số 75, hình thức Bao lô, 01 Đ, với số tiền mỗi lô là 7.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 126.000 đồng; Số 68, hình thức Bao lô, 01 Đ, với số tiền mỗi lô là 7.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 126.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 324.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 260.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 02: Số F, 70, 75, hình thức Đ, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 216.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 216.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 173.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 03: Số E, hình thức Bao lô, 03 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 51.000 đồng; Số 560, hình thức Bao lô, 03 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 51.000 đồng.; Số 60, 75, hình thức Đ, 03 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 216.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 318.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 258.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 04: Số G, 75, hình thức Đ, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 72.000 đồng; Số 07, hình thức Bao lô, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 5.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 180.000 đồng; Số 75, hình thức Bao lô, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 5.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 180.000 đồng; Số 554, hình thức Bao lô, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 2.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 68.000 đồng; Số 544, hình thức Xỉu chủ, 02 Đài, với số tiền mỗi lô là 10.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 40.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 540.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 434.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 05: Số G, 75, hình thức Đ, 03 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 216.000 đồng; Số A, 34, hình thức Đ, 03 Đài, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 216.000 đồng; Số A, hình thức Đầu đuôi, 01 Đài, với số tiền mỗi lô là 10.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 20.000 đồng; Số 34, hình thức Đầu đuôi, 01 Đài, với số tiền mỗi lô là 10.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 20.000 đồng; Số E, hình thức Đầu đuôi, 01 Đài, với số tiền mỗi lô là 10.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 20.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 492.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 396.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 06: Số E, hình thức Bao lô, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 4.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 144.000 đồng; Số 03, 30, hình thức Đ, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 72.000 đồng; Số 554, hình thức Xỉu chủ, 03 Đài, với số tiền mỗi lô là 6.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 36.000 đồng; Số 554, hình thức Bao lô, 03 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 51.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 303.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 245.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 07: Số I, hình thức Bao lô đảo, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 204.000 đồng; Số 970, hình thức Xỉu chủ đảo, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 3.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 72.000 đồng; Số 70, 79, 90, hình thức Đ, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 216.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 492.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 401.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 08: Số G, 70, 78, hình thức Đ, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 500 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 108.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 108.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 87.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 09: Số F, 59, hình thức Đ, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 72.000 đồng; Số 76, hình thức Đầu đuôi, 03 Đài, với số tiền mỗi lô là 6.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 36.000 đồng; Số 88, hình thức Đầu đuôi, 03 Đài, với số tiền mỗi lô là 5.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 30.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 138.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 112.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 10: Số B, hình thức Đầu đuôi, 01 Đài, với số tiền mỗi lô là 10.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 20.000 đồng; Số 229, hình thức Xỉu chủ, 01 Đài, với số tiền mỗi lô là 10.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 20.000 đồng; Số 229, hình thức Bao lô, 01 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 17.000 đồng; Số 2229, hình thức Bao lô, 01 Đài, với số tiền mỗi lô là 2.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 32.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 89.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 72.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 11: Số A, 34, hình thức Đ, 02 Đài, với số tiền mỗi lô là 2.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 144.000 đồng; Số A, hình thức Đầu đuôi, 02 Đài, với số tiền mỗi lô là 10.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 40.000 đồng; Số 34, hình thức Đầu đuôi, 02 Đài, với số tiền mỗi lô là 10.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 40.000 đồng; Số 34, 44, 77, hình thức Đ, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 216.000 đồng. Trong đó, có con số 34, 44 trúng nên con bạc thắng được số tiền 530.000 đồng; Số 34, hình thức Đầu đuôi, 02 Đài, với số tiền mỗi lô là 20.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 80.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 520.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 417.000 đồng. Con bạc thắng được số tiền 530.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 12: Số D, 61, 49, hình thức Đ, 02 Đ, với số tiền mỗi lô là 1.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 216.000 đồng. Trong đó, có con số 43, 49 trúng nên con bạc thắng được số tiền 530.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 216.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 173.000 đồng. Con bạc thắng được số tiền 530.000 đồng.

Do đó, số tiền L tham gia đánh bạc đài miền N tổng cộng là 4.816.000 đồng.

  • + Đài M (Quảng Bình - Bình Định - Quảng Trị, chưa mở thưởng):
  • - Tờ phơi số 13: Số F, 06, hình thức Đ, 03 Đ, với số tiền mỗi lô là 2.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 432.000 đồng; Số 60, hình thức Bao lô, 03 Đ, với số tiền mỗi lô là 5.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 270.000 đồng; Số 06, hình thức Bao lô, 03 Đ, với số tiền mỗi lô là 5.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 270.000 đồng; Số 60, hình thức Đầu đuôi, 03 Đài, với số tiền mỗi lô là 20.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 120.000 đồng; Số 06, hình thức Đầu đuôi, 03 Đài, với số tiền mỗi lô là 20.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 120.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 1.212.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 972.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 14: Số A, hình thức Bao lô, 01 Đài, với số tiền mỗi lô là 70.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 1.260.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 1.260.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 1.008.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 15: Số F, hình thức Bao lô, 01 Đ, với số tiền mỗi lô là 70.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 1.260.000 đồng. Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 1.260.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 1.008.000 đồng.
  • - Tờ phơi số 16: Số F, hình thức Bao lô, 01 Đ, với số tiền mỗi lô là 50.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 900.000 đồng; Số 60, hình thức Đầu đuôi, 01 Đài, với số tiền mỗi lô là 40.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 80.000 đồng; Số 06, hình thức Đầu đuôi, 01 Đài, với số tiền mỗi lô là 40.000 đồng, tổng cộng mua số đề với số tiền 80.000 đồng.

Tổng cộng con bạc mua số đề với số tiền 1.060.000 đồng, sau khi được trừ tiền hoa hồng thì con bạc chỉ phải trả số tiền 848.000 đồng.

  • - Tờ phơi số 17: (do Nguyễn Quốc V mua số đề với tổng số tiền 378.000 đồng, sau khi được L trừ tiền hoa hồng thì V phải trả số tiền 302.000 đồng)

Tổng số tiền L tham gia đánh bạc đài miền T tổng cộng là 5.170.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • - 7.200.000 đồng (tiền bán số đề thu giữ của Đỗ Thị L), Cơ quan điều tra đã gửi Kho bạc nhà nước khu vực II.
  • - 01 máy tính hiệu Casio đã qua sử dụng; 02 cuốn sổ giấy dùng để ghi đề đã qua sử dụng; 01 bút bi màu xanh để ghi số đề, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen (đã qua sử dụng) là vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng phiếu nhập kho vật chứng số: 262/PNK ngày 14 tháng 08 năm 2025
  • - 17 tờ phơi đề màu hồng và màu trắng có thể hiện các con số, hình thức và số tiền mà Đỗ Thị L ghi ngày 08/05/2025 (có trong hồ sơ vụ án).

Tại Bản cáo trạng số: 149/CT-VKS ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đỗ Thị L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị: Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo L từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”.

Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.

Người bào chữa của bị cáo L tranh luận: Đồng ý về tội danh mà bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có công việc làm ổn định, có nơi cư trú rõ ràng ổn định, có hoàn cảnh gia đình khó khăn trình độ học vấn thấp nên nhận thức còn hạn chế. Qua đó, đề nghị Hội đồng xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Thị L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định: Trong ngày 08/5/2025, Đỗ Thị L đã có hành vi bán số đề đài miền T4 cho các con bạc trong đó có bán số đề cho Nguyễn Quốc V. Tổng số tiền L thu được từ việc bán số đề cho các con bạc là 5.170.000 đồng. Hành vi nêu trên của Đỗ Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm Đánh bạc được quy định tại khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến trật tự công cộng được Nhà nước bảo vệ, gây mất trật tự, an toàn xã hội, do vậy phải xét xử nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử còn xem xét đến tính chất của hành vi phạm tội, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh và nhân thân của bị cáo.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; bản thân bị cáo có trình độ học vấn thấp (lớp 01/12). Vì vậy, xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội. Việc cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự là phù hợp, bảo đảm tính răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Lưu hồ sơ vụ án: 17 tờ phơi đề màu hồng và màu trắng có thể hiện các con số, hình thức và số tiền mà Đỗ Thị L ghi ngày 08/05/2025 (có trong hồ sơ vụ án).
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 7.200.000 đồng (tiền bán số đề thu giữ của Đỗ Thị L), Cơ quan điều tra đã gửi Kho bạc nhà nước khu vực II; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen (đã qua sử dụng).
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 máy tính hiệu Casio đã qua sử dụng; 02 cuốn sổ giấy dùng để ghi đề đã qua sử dụng; 01 bút bi màu xanh để ghi số đề.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[7] Về các nội dung liên quan: Đối với Nguyễn Quốc V, tham gia đánh bạc với số tiền 378.000 đồng, kết quả xác minh V chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc. Cơ quan Điều tra đã chuyển xử lý hành chính là có cơ sở.

[8] Về án phí hình sự bị cáo Đỗ Thị L phải chịu theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị L: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Thị L cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là Ủy ban nhân dân phường A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Trường hợp bị cáo Đỗ Thị L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Lưu hồ sơ vụ án: 17 tờ phơi đề màu hồng và màu trắng có thể hiện các con số, hình thức và số tiền mà Đỗ Thị L ghi ngày 08/05/2025 (có trong hồ sơ vụ án).
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 7.200.000 đồng (tiền bán số đề thu giữ của Đỗ Thị L), Cơ quan điều tra đã gửi Kho bạc nhà nước khu vực II; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen (đã qua sử dụng).
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 máy tính hiệu Casio đã qua sử dụng; 02 cuốn sổ giấy dùng để ghi đề đã qua sử dụng; 01 bút bi màu xanh để ghi số đề.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 01/QĐ-VKS, ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về án phí: Căn cứ vào các điều 23, 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Đỗ Thị L chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm

4/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự. Bị cáo Đỗ Thị L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

(Hội đồng xét xử đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - CA. TP. HCM (Tổ địa bàn khu vực 7) (1b);
  • - P.PV06 - CA TP. HCM (1b);
  • - VKSND Khu vực 7(1b);
  • - Cơ quan điều tra CA TP. HCM (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA TP. HCM (1b);
  • - THADS TP. HCM (1b);
  • - UBND nơi bị cáo cư trú (1b);
  • - Bị cáo (2b);
  • - Bộ phận THA Hình sự (5b);
  • - Lưu (vt, hs) (8b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Triệu Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 282/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tội đánh bạc

  • Số bản án: 282/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Lan - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger