|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 282/2024/HS-ST Ngày: 22- 11 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Lập
2. Ông Bùi Đức Nhân
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Huyền - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 263/2024/TLST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 274/2024/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Minh D (tên gọi khác: Không); sinh ngày: 28 tháng 11 năm 1999 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ B, khu D, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Lê Minh C và bà Vũ Thị T; có vợ và 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 12/3/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 16/4/2021; bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 16/8/2024 đến ngày 25/8/2024 chuyển sang tạm giam, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
Người chứng kiến:
1) Anh Vũ Việt T1; sinh năm: 1993; nơi cư trú: tổ B, khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
2) Chị Vũ Bích H; sinh năm: 1996; nơi cư trú: tổ B, khu B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 10 phút ngày 16/8/2024, tại đoạn đường thuộc tổ C, khu G, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang Lê Minh D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ: thu giữ tại tay trái D 01 (một) gói giấy vệ sinh bên trong có 01 (một) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ của D 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng có gắn sim thuê bao 0377.190.444.
Kết luận giám định số 1306/KL- KTHS ngày 21/8/2024 của phòng K Công an tỉnh Q kết luận: chất tinh thể gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine, khối lượng 1,289g (Một phảy hai tám chín gam).
Quá trình điều tra, Lê Minh D khai nhận: D sử dụng ma tuý Ketamine từ đầu năm 2024 nhưng không thường xuyên. Do cần tiền chi tiêu nên D nảy sinh ý định mua ma tuý về bán kiếm lời. Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 16/8/2024, D đi ra khu vực đoạn đường ở khu vực cổng vũ trường H, phường B, thành phố H để tìm mua ma tuý. Tại đây, D gặp và mua được của một nam thanh niên không quen biết 01 (một) gói ma tuý Ketamine được gói trong giấy vệ sinh với giá 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Sau khi mua được ma tuý, D cầm ma tuý ở tay đi tìm xem có ai hỏi mua thì bán. Đến 22 giờ 10 phút cùng ngày, khi D cầm ma tuý đi đến đoạn đường thuộc tổ C, khu G, phường B, thành phố H thì bị Công an phát hiện bắt giữ.
Vật chứng, tài sản tạm giữ trong vụ án: toàn bộ số ma tuý thu giữ của Lê Minh D, hoàn lại sau giám định; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng có gắn sim thuê bao 0377.190.444, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số: 5039/CT- VKSHL ngày 23/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lê Minh D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội cơ bản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lê Minh D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Minh D: từ 27 (Hai mươi bảy) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/8/2024.
Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 của
2
Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 1,24 gam ma túy, loại Ketamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số: 1306/KL - KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q;
Trả lại cho bị cáo Lê Minh D: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone X), màu vàng, tại thời điểm giao nhận vật chứng các bên xác nhận máy không lên nguồn, không xác định được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy + kèm 01 sim điện thoại.
Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình tiến hành tố tụng không ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Chứng cứ, tài liệu do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp và đảm bảo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, các hành vi tố tụng được đảm bảo hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lê Minh D thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: hồi 22 giờ 10 phút ngày 16/8/2024, tại đoạn được thuộc tổ C, khu G, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang Lê Minh D có hành vi tàng trữ trái phép 1,289 gam ma tuý, loại Ketamine với mục đích để bán. Hành vi của bị cáo Lê Minh D đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố H, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: hành vi phạm tội của bị cáo Lê Minh D là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện có tác hại nhiều mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bản thân người sử dụng, đồng thời ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, đến an ninh trật tự xã hội, từ ma túy sẽ kéo theo nhiều tệ nạn trong xã hội. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vì hám lời và coi thường pháp luật nên bị cáo đã bất chấp. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
3
[4] Về nhân thân: ngày 12/3/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 16/4/2021.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[7] Về hình phạt chính: căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: xét thấy trước khi phạm tội, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng, tài sản: đối với 1,24g (Một phảy hai bốn gam) ma túy, loại Ketamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số: 1306/KL - KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ; đối với: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone X), màu vàng, tại thời điểm giao nhận vật chứng các bên xác nhận máy không lên nguồn, không xác định được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy + kèm 01 sim điện thoại thu giữ trong vụ án của bị cáo Lê Minh D, bị cáo không sử dụng để liên lạc trong quá trình phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo D.
[10] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và về xử lý vật chứng, tài sản là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 326 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Lê Minh D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Lê Minh D: 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
4
ngày bị tạm giữ 16/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng, tài sản:
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 1,24g (Một phảy hai bốn gam) ma túy, loại Ketamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số: 1306/KL - KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q;
Trả lại cho bị cáo Lê Minh D: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone X), màu vàng, tại thời điểm giao nhận vật chứng các bên xác nhận máy không lên nguồn, không xác định được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy + kèm 01 sim điện.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số: 23/BB- THA ngày 28/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).
4. Về án phí: áp dụng: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Lê Minh D phải chịu: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: áp dụng: Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hùng |
5
6
Bản án số 282/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 282/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Lê Minh Duy: 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/8/2024
