Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 282/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Văn Dựa.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Nga
  2. Bà Nguyễn Ngọc Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Phước – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh T – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 326/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 319/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lại Văn Ú; Giới tính: Nam; Sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: B1/2, Ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Nhà không số, Ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lại Văn H và bà Trương Thị T1; Bị cáo có vợ là Hồ Thị Kim T2; có 01 con sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 19/8/2005, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 4421/QĐ-UB áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ ngày 30/08/2005 đến ngày 29/06/2007.
  • - Ngày 03/03/2009, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 06 tháng tù theo Bản án số 42/2009/HSST về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/11/2010, đã đóng án phí vào ngày 09/9/2009.
  • - Ngày 13/05/2014, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù theo Bản án số 132/2014/HSST về tội “Trộm cắp tài sản", chấp hành án xong án phạt tù ngày 07/04/2015, đã đóng án phí vào ngày 27/8/2014.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 25/6/2024 (có mặt).

Bị hại: Bà Phan Thị C, sinh năm 1970 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: C, ấp C (tổ A, ấp C cũ), xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 ngày 24/6/2024, Lại Văn Ú một mình điều khiển xe đạp đi lòng vòng khu vực xã V tìm tài sản sơ hở để lấy trộm. Đến khoảng 02 giờ 20 cùng ngày, Ú điều khiển xe đạp đến trước cổng nhà ông Trương Văn T3 tại địa chỉ C, Ấp C, xã V, huyện B và nhìn vào bên trong thì thấy cổng ra vào có khóa nhưng cửa chính không khóa, đang mở một cánh cửa. Thấy vậy, Ú dựng xe đạp ở hẻm sát bên hông nhà, trèo tường và đột nhập vào nhà. Thấy ông T3 và vợ là bà Phan Thị C đang nằm ngủ ngay sau cánh cửa nên Ú tiếp tục đi vào phòng ngủ ở tầng trệt, đến giường ngủ thì thấy có 01 điện thoại di động Iphone 12 màu đen của bà C đặt trên giường nên Ú lấy chiếc điện thoại này bỏ vào túi quần phía trước, bên trái. Út tiếp tục lục trong tủ quần áo thì phát hiện 01 cái ví màu nâu, hình chữ nhật, bên trong có số tiền 900.000 đồng của bà C nên Ú lấy số tiền trên bỏ vào túi quần phía sau, bên trái. Ú tiếp tục lục thêm 02 ví nữa nhưng không có tài sản nên vứt dưới gầm tủ. Sau đó, Ú đi ra ngoài thì ông T3 thức giấc phát hiện nên tri hô thì Ú leo qua hàng rào, lấy xe đạp bỏ chạy theo hướng ra đường K. Trên đường bỏ chạy thì Ú dừng lại tháo sim của điện thoạt vứt bỏ nhưng sợ bị phát hiện nên Ú vứt chiếc điện thoại bên lề đường. Ú chạy tiếp khoảng 15m thì vứt xe đạp, trốn vào bụi chuối trong bãi đất trống thuộc Ấp C, xã V, huyện B. Khi anh Trương Văn N và anh Trương Văn L (con ông T3, bà C) đến bãi đất trống thì phát hiện Ú đang trốn trong bụi chuối nên anh N và anh L tiến hành bắt giữ. Kiểm tra trên người Ú thì thấy 900.000 đồng, anh N hỏi điện thoại mày lấy trộm đâu thì Ú trả lời vứt ở lề đường cách nơi bị bắt giữ 15m, anh N và anh L đến và tìm thấy chiếc điện thoại. Sau đó, anh L đã bàn giao Lại Văn Ú cùng vật chứng cho Cơ quan Công an xã V.

Công an xã V tiến hành tiếp nhận sự việc, lập hồ sơ ban đầu và chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng cùng Lại Văn Ú đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thụ lý theo thẩm quyền. (Bút lục 183)

Tại Cơ quan điều tra, Lại Văn Ú đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc như đã nêu trên. Lời khai của Ú phù hợp với bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập. (Bút lục 66-78)

Kết luận định giá tài sản số 2023/KL-HĐĐGTS ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen, số seri: F17DF2740DXP trị giá 6.500.000 đồng. (Bút lục 145-147)

Vật chứng thu giữ của vụ án:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen có số seri: F17DF2740DXP, số tiền 900.000 đồng (18 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng) và 03 ví nữ không có nhãn hiệu màu trắng, nâu, xám của bà C: Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Phan Thị C.
  • - 01 xe đạp màu trắng nhãn hiệu Martin; 01 quần jean ngắn màu xám; 01 áo sơ mi tay dài màu đen có hoa văn chữ Gucci màu trắng; 01 dây nịt bằng da màu đen có mặt khóa bằng kim loại trắng. Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh

Tại bản Cáo trạng số 307/CT - VKSBC ngày 11 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lại Văn Ú về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo Lại Văn Ú đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”,

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lại Văn Ú từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về dân sự: Bị hại Phan Thị C đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lại Văn Ú tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án; vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai; bản ảnh hiện trường, kết quả định giá tài sản...cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 24/6/2024, bị cáo Lại Văn Ú đã có hành vi lén lút trèo tường và đột nhập vào nhà ông T3 và bà C lấy trộm số tiền 900.000 đồng trong ví tiền bà C và 01 điện thoại di động Iphone 12 màu đen của bà Phan Thị C đang đặt trên giường. Giá trị chiếc di động Iphone 12 màu đen của bà Phan Thị C mà bị cáo Lại Văn Ú trộm cắp là 6.500.000 đồng. (Theo Kết luận định giá số 2023/KL-HĐĐGTS ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B).

Với những tình tiết được chứng minh trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lại Văn Ú đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, T4 phồ Hồ Chí M đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.

[3] Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội là muốn có tiền tiêu xài cho bản thân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng bản tính tham lam, biếng lười lao động nên bị cáo cố ý phạm tội. Tội phạm bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, tạo tâm lý hoang mang trong nhân dân.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có nhân thân xấu:

  • - Ngày 19/8/2005, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 4421/QĐ-UB áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ ngày 30/08/2005 đến ngày 29/06/2007.
  • - Ngày 03/03/2009, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 06 tháng tù theo Bản án số 42/2009/HSST về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/11/2010, đã đóng án phí vào ngày 09/9/2009.
  • - Ngày 13/05/2014, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù theo Bản án số 132/2014/HSST về tội “Trộm cắp tài sản", chấp hành án xong án phạt tù ngày 07/04/2015, đã đóng án phí vào ngày 27/8/2014.

Đây là tình tiết mà Hội đồng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen có số seri: F17DF2740DXP, số tiền 900.000 đồng (18 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng) và 03 ví nữ không có nhãn hiệu màu trắng, nâu, xám của bà C. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tiền và điện thoại cho bà C, nên không xét.
  • - Đối với 01 (một) xe đạp màu trắng nhãn hiệu Martin. Đây là phương tiện mà bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) quần jean ngắn màu xám; 01 áo sơ mi tay dài màu đen có hoa văn chữ Gucci màu trắng; 01 dây nịt bằng da màu đen có mặt khóa bằng kim loại trắng mà Ú sử dụng để đi trộm cắp. Đây là những tài sản không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) USB chứa clip ghi nhận hình ảnh Lại Văn Ú thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, lưu kèm hồ sơ vụ án.

[6] Về dân sự: Ghi nhận bị hại bà Phan Thị C không yêu cầu bị cáo bồi thường.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lại Văn Ú: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2024.
  • * Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) xe đạp màu trắng nhãn hiệu Martin.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần jean ngắn màu xám; 01 (một) áo sơ mi tay dài màu đen có hoa văn chữ Gucci màu trắng; 01 (một) dây nịt bằng da màu đen có mặt khóa bằng kim loại trắng (là trang phục mà Ú sử dụng để đi trộm cắp).
  • Bảo lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB chứa clip ghi nhận hình ảnh Ú thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
  • (Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng được lập vào ngày 14/10/2024 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh).
  • * Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lại Văn Ú chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND huyện Bình Chánh;
  • - Công an huyện Bình Chánh;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - PV06 - Công an Thành phố Hồ Chí Minh (1);
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Chánh;
  • - Lưu: Vp, Hồ sơ vụ án. (Tp. Dựa)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Dựa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 282/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 282/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger