Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 281/2024/HNGĐ-ST

Ngày 28 – 4 – 2024

V/v ly hôn Huyền – Hồi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Phương và bà Nguyễn Thị Kim Chi

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLST- HNGĐ, ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 115/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ G, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; nơi ở hiện nay: 1 N, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyền Văn H1, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ G, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo khởi kiện ngày 29/12/2023 và lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ H trình bày: Thông qua mai mối, ngày 30/4/2012 chị và anh Nguyễn Văn H2 thành vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 30 ngày 18 tháng 6 năm 2012. Do không tìm hiểu trước khi kết hôn nên vợ chồng không hạnh phúc do không hợp tính tình, thường xuyên cãi nhau, anh H2 thường xuyên uống rượu, có lần còn dọa đánh chị H, chị H nhiều lần nộp đơn ly hôn rồi rút đơn để hàn gắn gia đình nhưng anh H2 không thay đổi. Từ cuối năm 2021 chị H ly thân với anh H2 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, chị xin ly hôn anh H2.

Chị và anh H2 có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 15/5/2013, hiện đang sống cùng chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H2 cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị và anh H2 không có tài sản chung, nợ chung.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H2 vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do là vi phạm Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Lệ H được ly hôn anh Nguyễn Văn H2. Chị H và anh H2 có 01 con chung, giao chị H được tiếp tục nuôi con chung. Chị H không yêu cầu nên anh H2 không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H và anh H2 không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết. Chị H phải chịu án phí Hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Chị H và anh H2 tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 30 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 18/6/2012 nên hôn nhân là hợp pháp làm phát sinh nghĩa vụ vợ chồng. Quá trình chung sống chị H cho rằng vợ chồng không hạnh phúc do không hợp tính tình, thường xuyên cãi nhau, anh H2 thường xuyên uống rượu nên đã ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay. Xét thấy, chị H và anh H2 ly thân đã lâu nhưng các bên không có thiện chí hàn gắn, vi phạm nghĩa vụ chung sống, yêu thương, chăm sóc của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn là có căn cứ.

[2.2] Về con chung: Chị H và anh H2 có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 15/5/2013, hiện đang sống cùng chị H. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay chị H là người trực tiếp nuôi con, để ổn định cuộc sống của cháu nên Hội đồng xét xử giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu nên không buộc anh H2 phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 322 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ H.

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lệ H được ly hôn anh Nguyền Văn H1.
  2. Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 15/5/2013, hiện đang sống cùng chị H. Giao con chung cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu nên không buộc anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con.

    Chị H và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh H1 đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở anh H1 thực hiện quyền này.

    Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.

  3. Về tài sản chung: Không có
  4. Về nợ: Ghi nhận chị H trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
  5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006487 ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh H1 không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - UBND xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Ủy ban nhân dâ xã Phú Hiệp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Rỡ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 281/2024/HNGĐ-ST ngày 28/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 281/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H xin ly hôn H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger