TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 281/2023/HS-ST
Ngày: 26/12/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán sơ cấp- Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thúy Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị An;
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh.
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 26/12/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 293/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 285/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm: 2002; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn T1; Con bà: Vũ Thị T2; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 18/7/2023, tạm giam từ ngày 27/7/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 01 – Công an T4. Số giam: 4156/8.
Họ và tên: Trần Văn K, sinh năm: 2002; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn Q; Con bà: Trần Thị V; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai; Chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 18/7/2023, tạm giam từ ngày 27/7/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 01 – Công an T4. Số giam: 4159/7D.
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm: 2000; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn Đ; Con bà: Lương Thị C; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 18/7/2023, tạm giam từ ngày 27/7/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 01 – Công an T4. Số giam: 4158/20B.
Các bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bị hại:
Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 2001; Nơi thường trú: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Đinh Công T3, sinh năm 2007; Nơi thường trú: Xóm V, xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Người giám hộ cho Đinh Công T3: Chị Hà Thị H1, sinh năm 2001(Do được bố đẻ bị hại ủy quyền (BL34)).
- - Anh Nguyễn Đăng D, sinh năm 2001; Nơi thường trú: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 17/7/2023, anh Nguyễn Văn C1 (sinh năm: 2001; Nơi thường trú: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh) cùng anh Đinh Công T3 (sinh năm: 2007; Nơi thường trú: Xóm V, xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình) và anh Nguyễn Đăng D (sinh năm: 2001; Nơi thường trú: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Ninh) đến đường Q, vào ăn đêm tại quán P, thuộc thôn D, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội. Khoảng một lúc sau thì Nguyễn Văn H, Trần Văn T và Trần Văn K di chuyển bằng phương tiện taxi đến quán ngồi ăn, uống rượu. Sau đó, H đi vào bên trong quầy ăn để thanh toán tiền ăn. T và K tiếp tục ngồi uống rượu và cãi chửi nhau. Thấy vậy, mọi người và nhóm của C1, T3, D can ngăn thì sự việc dừng lại. Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, nhóm T, K và H đi bộ về phòng trọ theo hướng đi thôn D - D. Khoảng 15 phút sau, C1 đã điều khiển chiếc xe máy, nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, BKS 29F5 - 7102 chở T3 và anh D đi ra về. Khi đi trên quốc lộ C (hướng đi Cầu Đuống), đoạn gần ngã ba quốc lộ C - D, C1 nghe thấy bên rìa đường bên phải có nhóm người chửi đổng nhóm C1, nên C1 quay xe máy lại, dừng xe thì nhận ra đây là nhóm T, K, H vừa ngồi cùng quán ăn đêm lúc trước. C1 hỏi nhóm T, K, H “Anh chửi em gì thế?”, “Sao các anh lại chửi chúng em?”. Sau đó, nhóm T, K, H lại gần nhóm C1, T3, D nói giọng kiểu say, lè nhè nên C1 điều khiển xe máy quay lại hướng quán ăn đêm để tìm công cụ đánh nhóm T, K, H. C1 đi được khoảng 20 mét thì thấy ven đường có một thanh tre nứa dài khoảng hơn 1 mét và nhặt lên, cầm giắt vào xe máy rồi quay xe máy đuổi theo nhằm chặn nhóm T, K, H để đánh. Khi đuổi kịp, nhóm C1, T3, D dừng xe máy (chìa khóa xe máy vẫn cắm ở ổ khóa điện), xuống đường đứng chặn nhóm T, K, H. Bị chặn đường, H hỏi nhóm C1, T3, D: “Chúng mày thích gì?”. Rồi nhóm T, K, H và nhóm C1, T3, D cùng lao vào đánh gây thương tích cho nhau. H đấm 01 cái trúng vùng miệng của C1, C1 vung thanh tre nứa vụt liên tiếp nhiều phát trúng H. Khi thanh tre nứa bị nát 01 đầu thì H giằng được ném thanh tre nứa ra xa. Hai nhóm dịch chuyển ngang qua đường quốc lộ 3 đến khu đất trống trước của hàng sửa chữa ô tô Dũng H thuộc thôn D, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội. T dùng chân đạp 01 cái trúng mạng sườn bên trái khiến T3 bỏ chạy về phía hướng D - Cầu Đ. Thấy T3 bỏ chạy, nghĩ T3 chạy đi gọi thêm người để đánh mình, T chạy đến điều khiển xe máy biển kiểm soát 29F5 – 7102, đuổi theo T3 nhưng không đuổi được. T quay xe lại, dựng xe ở lề đường, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện của xe máy. T thấy H và C1 đang vật lộn thì T lấy được thanh tre nứa của C1 vụt liên tục vào lưng, đầu C1, dùng tay đấm nhiều phát trúng người Cương. Rồi T tiếp tục lao vào hỗ trợ cùng K đánh D. T dùng tay đấm nhiều phát trúng vào cơ thể D, khiến D nằm trên mặt đất. Sau đó, C1 đi đến rút chìa khóa trên chiếc xe máy. Thấy C1 rút, cầm chìa khóa xe máy trong tay, K và T đuổi theo sau C1. K dùng chân trái đạp trúng vào lưng C1. Cương nhặt được viên gạch ở rìa đường đập 02 phát trúng đầu của T. K tiếp tục cầm nửa viên gạch đập một phát trúng đầu C1, rồi tiếp tục giơ viên gạch lên và nói: “đưa chìa khóa xe máy đây”. T cũng đánh liên tiếp vào người C1 và yêu cầu “mày có đưa chìa khóa xe cho tao không, không đưa thì tao đập nát xe của mày luôn đấy”, còn K ra lệnh với C1 “mày đưa chìa khóa cho nó!”. Bị T và K dùng vũ lực ép buộc nên C1 buộc phải đưa chìa khóa cho T. H đứng gần đó nghe và thấy T và K dùng vũ lực ép buộc C1 phải đưa chìa khóa xe máy cho T cầm nhưng H vẫn để mặc để sự việc này xảy ra. T liền dùng chân đạp trúng người C1 và nhặt viên đá dưới đất đánh vào đầu C1. Khi này, C1 nhìn thấy H dùng chân đá nhiều cái trúng vào cơ thể D đang nằm ở dưới đất, không tự đứng dậy được. T và K bảo C1 về tìm và gọi T3 ra gặp họ. Sau đó, C1 chạy bộ đi về khu nhà trọ ở Y, G. K đuổi theo sau C1, nhưng không theo kịp. T thấy thế đi xe máy đón K, rồi quay lại chỗ H. H cùng với T và K sử dụng xe máy của C1 rồi đi. Mặc dù biết chiếc xe máy không phải là tài sản của bản thân và của T, K nhưng H vẫn ngồi lên xe để T chở đi rời khỏi hiện trường vụ việc đi về phía chợ N1, huyện G, TP Hà Nội. Còn C1 thì gọi điện cho người thân đến, quay lại nơi D đang nằm và đưa cả D đến bệnh viện H2 để cấp cứu. Còn C1 đến bệnh viện Đ2 khám điều trị thương tích.
Trên đường đi, K bảo với T và H điều khiển xe máy về nhà nghỉ ngủ rồi sáng mai về. Nhưng do H nói: “mai anh còn công việc”, nên cả ba thống nhất về phòng trọ của K ngủ. Trên đường đi, T dừng xe trên đường để H đi vệ sinh. T và K bàn bạc và thực hiện lấy chiếc khẩu trang màu xanh để T bịt biển kiểm soát của chiếc xe máy nêu trên, mục đích đề phòng trường hợp nhóm của C1, T3, D phát hiện ra xe và đánh gây thương tích cho họ. Lúc này, H bảo việc lấy xe sẽ sớm bị phát hiện nên khuyên T và K mang xe về trả để sáng mai H còn đi làm. Sau khi đi được khoảng 30 phút, nhóm T, K, H bảo nhau mang xe về khu vực hiện trường để trả lại. Khi đến nơi, không còn thấy người nào trong nhóm của C1, T3, D tại đó, nên T và K xuống xe đứng bên lề đường để một mình H mang xe máy đến nói với ông Đào Văn C2 (sinh năm 1954. Nơi thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương – Là bảo vệ bãi mua bán xe ô tô Hạnh Phúc cạnh đó): “cho cháu gửi xe máy, tí nữa hoặc sáng có người đến lấy”, đồng thời rút chìa khóa đưa cho ông C2.
Đến sáng ngày 17/7/2023, anh C1 đến trụ sở Công an xã M trình báo sự việc trên. Sau đó nhóm T, K, H được mời đến cơ quan Công an để làm rõ sự việc.
Vật chứng tạm giữ:
- - 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu HONDA - DREAM, màu sơn nâu, BKS: 29F5-7102, số khung: 0452744; số máy: 0452744, đã qua sử dụng.
- - 01 mảnh tre màu vàng sẫm, dài khoảng 70cm, rộng khoảng 5cm.
- - 01 mảnh tre màu vàng sẫm, dài khoảng 90cm, bị vỡ mảnh đầu.
- - 01 chiếc áo sơ mi cộc tay, sáng màu, đã qua sử dụng, cỡ XL.
Ngày 28/7/2023 Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận chiếc xe máy, nhãn hiệu HONDA - DREAM, màu sơn nâu, biển kiểm soát: 29F5-7102 trị giá 15.000.000 đồng.
Đối với thương tích của Trần Văn T, Trần Văn K và Nguyễn Văn H, sau khi xảy ra sự việc T, K, H không đi khám điều trị, không có hồ sơ tài liệu y tế, từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và không có đề nghị xử lý gì về thương tích của mình. Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý về hành vi “cố ý gây thương tích cho người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” đối với anh C1 và D. Công an huyện Đ đã Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với anh Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Đăng D về hành vi “khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác” quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội) cùng mức phạt 2.500.000 đồng. Anh Đinh Công T3 không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong vụ án này.
Đối với thương tích của các anh Nguyễn Văn C1, Đinh Công T3 và Nguyễn Đăng D, sau khi xảy ra sự việc, từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và không có đề nghị xử lý gì về thương tích của mình nên không có căn cứ xử lý các đối tượng đánh anh C1, T3 và D theo quy định pháp luật. Cơ quan điều tra đã khởi tố bị cáo T, K và H về tội Cướp tài sản nên không đề cập xử lý vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích đối với T, K và H.
Đối với chiếc xe máy, nhãn hiệu HONDA - DREAM, màu sơn nâu, BKS: 29F5-7102, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn Đ1 (sinh năm 1973, HKTT: L, T, L, Bắc Ninh – là bố đẻ của C1). Ngày 11/8/2023, ông Nguyễn Văn Đ1 có ủy quyền cho anh Nguyễn Văn C1 làm việc với Cơ quan điều tra liên quan đến chiếc xe máy nêu trên. Ngày 13/11/2023 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho anh Nguyễn Văn C1.
Đối với 01 mảnh tre màu vàng sẫm, dài khoảng 70cm, rộng khoảng 5cm; 01 mảnh tre màu vàng sẫm, dài khoảng 90cm, bị vỡ mảnh đầu; 01 chiếc áo sơ mi cộc tay, sáng màu, đã qua sử dụng, cỡ XL, là vật chứng của vụ án, chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh để Tòa án giải quyết theo thẩm quyền.
Về phần dân sự:
Anh Nguyễn Văn C1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Trần Văn T, Trần Văn K và Nguyễn Văn H phải bồi thường về phần dân sự. Anh C1 có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho T, K và H.
Bản Cáo trạng số 286 ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh quyết định truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự ;
Tại phiên tòa,
Các Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Các Bị cáo thừa nhận, Khoảng 00 giờ 45 phút, trong quá trình xô xát tại địa phận thôn D, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội, bị cáo T, K đã dùng vũ lực đe dọa anh Nguyễn Văn C1, buộc anh C1 phải giao chiếc xe Honda Dream cho các bị cáo nhằm mục đích chiếm đoạt. Bị cáo H tuy không tham gia đe dọa anh C1 do lúc này H đang đánh anh D, H biết T, K đe dọa anh C1 buộc phải giao tài sản nhưng bỏ mặc sự việc xảy ra, H cùng T, K sử dụng xe của anh C1 rời khỏi hiện trường vụ án. Các bị cáo thừa nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, luận tội, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng quy định điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 07 năm đến 7 năm 06 tháng tù. Xử phạt bị cáo K 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù; Bị cáo H từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về dân sự : Bị hại không yêu cầu bồi thường về tài sản, không yêu cầu về dân sự nên không xét.
- - Xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy : 01 mảnh tre màu vàng sẫm, dài khoảng 70cm, rộng khoảng 5cm; 01 mảnh tre màu vàng sẫm, dài khoảng 90cm, bị vỡ mảnh đầu; 01 chiếc áo sơ mi cộc tay, sáng màu, đã qua sử dụng, cỡ XL.
- - Về án phí : Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố.
[2] Về hành vi và tội danh: Giữa các bị cáo T, K, H và nhóm của bị hại C1, D, N đã xảy ra xô sát, đánh nhau. Do nhóm của bị cáo thắng thế nên bị hại C1 đã rút chìa khoá xe mô tô cầm trên tay thì bị cáo T nhìn thấy và đe doạ buộc anh C1 giao khóa xe môtô, bị cáo T và K đã đe dọa anh C1 buộc phải giao chìa khoá xe để các bị cáo lấy xe sử dụng. Bị cáo K cầm nửa viên gạch đập vào đầu bị hại C1 và đe doạ đưa chìa khoá, nếu không đưa sẽ đập nát xe”, sau đó K tiếp tục yêu cầu anh C1 đưa chìa khoá xe cho bị cáo T cầm Các bị cáo đã thực hiện hành vi dùng vũ lực để uy hiếp anh C1, khiến anh C1 sợ hãi buộc phải giao chìa khóa xe cho các bị cáo để nhằm mục đích chiếm đoạt. Bị cáo H ở cách vị trí của T và K khoảng cách ngắn, khoảng 6-7 mét, chứng kiến toàn bộ hành vi của hai bị cáo kia nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, các bị cáo cùng nhau sử dụng chiếc xe rời khỏi hiện trường.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đều đã thành niên, có khả năng nhận thức, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được luật hình bảo vệ, có đủ căn cứ khẳng định các bị cáo đã phạm vào điểm d, e Khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Nội dung của khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự quy định:
Nội dung Điều luật quy định:
"1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; ...”
Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận tội và xin hưởng khoan hồng.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân và tiền án, tiền sự: Các Bị cáo chưa có tiền án tiền sự; nhân thân chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng đối với bị cáo: Không;
- - Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ và tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và đặc điểm về nhân thân của bị cáo, xét cần thiết phải cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, để bị cáo được cải tạo trong môi trường pháp luật mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt tù giam đối với bị cáo mới có đủ tính răn đe và giáo dục chung.
Khi lượng hình, xét tính chất mức độ của hành vi các bị cáo thấy: Bị cáo K, bị cáo T trực tiếp đe dọa chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo H biết hai bị cáo chiếm đoạt xe của bị hại nhưng vẫn tiếp nhận ý chí và cùng sử dụng chiếc xe chiếm đoạt được để rời khỏi hiện trường. Xét vai trò của H trong vụ án là thứ yếu, H là người đề xuất trả lại xe cho bị hại. Do vậy hình phạt của bị cáo H nhẹ hơn so với bị cáo T, K.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vấn đề không xử lý hình sự đối với hành vi cố ý gây thương tích của các bị cáo: Do bị hại từ chối giám định nên không xác định được tỷ lệ thương tật của bị hại. Các bị cáo đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản nên Cơ quan điều tra không xử lý các bị cáo về hành cố ý gây tương tích là có căn cứ.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 mảnh tre màu vàng sẫm, dài khoảng 70cm, rộng khoảng 5cm; 01 mảnh tre màu vàng sẫm, dài khoảng 90cm, bị vỡ mảnh đầu; 01 chiếc áo sơ mi cộc tay, sáng màu, đã qua sử dụng, cỡ XL, là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.
Về phần dân sự: Anh Nguyễn Văn C1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Trần Văn T, Trần Văn K và Nguyễn Văn H phải bồi thường về phần dân sự. Anh C1 có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho T, K và H.
[7] Về dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường về tài sản và không yêu cầu bồi thường về thương tích. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Điều 23,26 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn T, Trần Văn K;
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H;
- - Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố các bị cáo: Trần Văn T, Trần Văn K, Nguyễn Văn H phạm tội “ Cướp tài sản".
Xử phạt:
Bị cáo Trần Văn T 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.
Bị cáo Trần Văn K 07 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.
Bị cáo Nguyễn Văn H 06 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.
Về dân sự: Không
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh tre màu vàng sẫm, dài khoảng 70cm, rộng khoảng 5cm; 01 mảnh tre màu vàng sẫm, dài khoảng 90cm, bị vỡ mảnh đầu; 01 chiếc áo sơ mi cộc tay, sáng màu, đã qua sử dụng, cỡ XL. Chi tiết vật chứng như tại biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
Về án phí:
Bị cáo không phải chịu phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm. Các Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Triệu Thúy Hà |
Bản án số 281/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 281/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Trần Văn Thanh, Trần Văn Khánh, Nguyễn Văn Hùng phạm tội Cướp tài sản theo Điều 168 BLHS 2015
