Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 281/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23-9-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Ngô Văn Bê

Ông Hoàng Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 198/2024/QĐ-ST ngày 23/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 163/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/8/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy Đ, sinh ngày 04/8/1984 (vắng mặt)

Nơi thường trú: thôn A, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh ngày 10/7/1984 (vắng mặt)

Nơi thường trú và nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam: thôn A, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1953 (vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958 (vắng mặt)

Đều thường trú: thôn A, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Duy Đ trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh, chị K được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 29/4/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau kết hôn anh, chị chung sống tại thôn A, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng càng về sau càng nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Do điều kiện kinh tế khó khăn, tháng 7/2019 chị K đi lao động tại Đài Loan. Kể từ khi chị K sang Đài Loan lao động, mâu thuẫn giữa anh và chị K ngày càng trở nên nghiêm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, chi tiêu trong gia đình, cách nuôi dạy con cái và cách nhìn nhận của đôi bên không còn phù hợp. Trong thời gian mâu thuẫn, vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện đã gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên không về đoàn tụ được. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị K.

Về con chung: Anh, chị K có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 25/7/2009 và cháu Nguyễn Chí T, sinh ngày 21/3/2011. Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng chị K, ông X, bà H (ông bà ngoại). Sau ly hôn anh đề nghị giao cháu L, cháu T cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nhưng do chị K đang lao động tại Đài Loan nên đề nghị tạm giao cháu L, cháu T cho ông X, bà H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị K về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung cho chị K với mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/01 cháu/01 tháng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Đ trình bày: Do bận công việc nên anh đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa xét xử.

Chị Nguyễn Thị K là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị H là bố mẹ chị K trình bày:

Về hôn nhân: chị K, anh Đ được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị K về nhà anh Đ làm dâu và chung sống hòa thuận. Tháng 7/2019 chị K sang Đài Loan lao động. Sang Đài Loan anh, chị vẫn hòa thuận nhưng từ tháng 4/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên từ đó vợ chồng anh, chị ít khi liên lạc với nhau. Ông, bà có khuyên bảo anh, chị nhưng không được.

Về con chung: chị K, anh Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 25/7/2009 và cháu Nguyễn Chí T, sinh ngày 21/3/2011. Các cháu sinh sống cùng ông bà từ tháng 01/2023 đến nay. Ông, bà đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L, T thay cho chị K cho đến khi chị K về nước sinh sống. Ông, bà xác định đây vừa là quyền cũng như nghĩa vụ của ông, bà đối với con cháu nên không yêu cầu anh Đ, chị K phải trích trả công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L, T trong thời gian các cháu sinh sống cùng ông, bà. Ông, bà không yêu cầu anh Đ, chị K phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị K hàng tháng vẫn gửi tiền cho ông, bà để nuôi con. Tuy nhiên, nếu anh Đ đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng/01 cháu/ 01 tháng ông bà cũng đồng ý.

Ngoài ra, ông bà cho biết: Trước khi đi lao động tại Đài Loan chị K sinh sống cùng gia đình tại thôn A, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Đài Loan chị K vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Ông bà đã thông báo cho chị K biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa anh Đ và chị K thì được chị K cho biết chị không đồng ý ly hôn với anh Đ vì muốn các con có cả bố lẫn mẹ. Tuy nhiên, chị K không cung cấp địa chỉ nơi làm việc, nơi ở và ý kiến bằng văn bản cho Tòa án được. Chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Do bận công việc nên ông, bà đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa xét xử.

Cháu Nguyễn Thị Khánh L, cháu Nguyễn Chí T trình bày: Các cháu hiện nay đang sinh sống cùng ông, bà ngoại tại thôn A, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống các cháu được ông bà ngoại chăm sóc chu đáo, cẩn thận, các cháu phát triển ổn định cả về vật chất và tinh thần. Từ khi mẹ đi lao động nước ngoài đến nay các cháu vẫn chung sống ổn định cùng ông bà ngoại. Do đó, nếu bố mẹ ly hôn các cháu muốn được sinh sống cùng mẹ và ông bà ngoại.

Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Nguyễn Duy Đ, ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Nguyễn Duy Đ; biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Thị Khánh L, cháu Nguyễn Chí T; biên bản làm việc với ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị H và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Duy Đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị Nguyễn Thị K

không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh Đ, chị K, bà H, ông X là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 104, 107,110, 116, 117, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy Đ; xử:

Về hôn nhân: anh Nguyễn Duy Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị K.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Thị Khánh L, cháu Nguyễn Chí T cho chị Nguyễn Thị K nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, nhưng tạm giao cháu L, cháu T cho ông X, bà H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị K về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị K đối với cháu L, T với mức cấp dưỡng hàng tháng là 1.500.000 đồng/01 cháu/01 tháng, kể từ tháng 9/2024 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Anh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Nguyễn Duy Đ khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị K và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại Công văn số 19994/QLXNC-P3 ngày 04/9/2024 của Cục Q - Bộ C cung cấp, chị Nguyễn Thị K đã xuất nhập cảnh 01 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 15/7/2019 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, chị K được xác định là đang ở nước ngoài. Chị K là bị đơn có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có bị đơn chị K ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về việc vắng mặt đương sự:

Đối với nguyên đơn anh Nguyễn Duy Đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị H xin xét xử vắng mặt, nên Hội

đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đ, ông X, bà H.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị K: Căn cứ lời khai của nguyên đơn anh Đ và ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị H (bố mẹ chị K) Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của chị K ở Việt Nam là: thôn A, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho chị K thông qua gia đình và đề nghị gia đình thông báo cho chị K biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa anh Nguyễn Duy Đ và chị Nguyễn Thị K. Gia đình chị K cho biết chị K vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị K không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị K tại Đài Loan. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4]. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Duy Đ và chị Nguyễn Thị K kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 29/4/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng anh Đ, chị K phát sinh mâu thuẫn, anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị K.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Đ với chị K, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh Đ, chị K chung sống hòa thuận nhưng sau một thời gian kết hôn anh, chị phát sinh nhiều mâu thuẫn. Năm 2019 chị K đi lao động tại Đài Loan. Sau khi chị K sang Đài Loan vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên không còn liên lạc với nhau nữa. Chị K thông qua gia đình cho biết chị không đồng ý ly hôn với anh Đ vì muốn các con có cả bố lẫn mẹ. Tuy nhiên, theo cung cấp của ông X, bà H là bố mẹ chị K thì chị K, anh Đ có mâu thuẫn từ tháng 4/2023, kể từ đó anh, chị cũng không còn liên lạc với nhau nữa. Do đó, Hội đồng xét xử xác định anh Đ, chị K không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ, xử cho anh Nguyễn Duy Đ được ly hôn với chị Nguyễn Thị K là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[5]. Về nuôi con chung: Anh Đ, chị K có 02 con chung cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 25/7/2009 và cháu Nguyễn Chí T, sinh ngày 21/3/2011. Hiện nay cháu L, T đang sinh sống cùng ông X, bà H là ông, bà ngoại của các cháu tại thôn A, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi ly hôn anh Đ đề nghị giao cháu L, T cho chị K là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cháu L, cháu T cho ông X, bà H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị K

về nước sinh sống, cháu L, T có nguyện vọng được ở cùng mẹ và ông, bà ngoại.

Xét yêu cầu giao cháu L, T cho chị K trực tiếp, nuôi dưỡng sau ly hôn của anh Đ, Hội đồng xét xử thấy: Chị K hiện đang lao động tại nước ngoài nên chị K không đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, ông X, bà H là bố mẹ chị K đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L, T thay chị K cho đến khi chị K về nước sinh sống. Cháu L, cháu T trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ và ông X, bà H (ông bà ngoại). Mặt khác, từ tháng 01/2023 đến nay cháu L, T chuyển sang sinh sống cùng ông X, bà H, các cháu phát triển ổn định cả về vật chất lẫn tinh thần. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh Đ về việc giao chị K là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu L, T sau khi ly hôn, nhưng tạm giao cháu L, cháu T cho ông X, bà H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị K về nước sinh sống là phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp Điều 81, 104 Luật hôn nhân và Gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Duy Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh Đ thực hiện quyền này theo quy định Điều 82, 83 Luật hôn nhân và Gia đình.

Trường hợp anh Nguyễn Duy Đ có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

[6]. Về mức cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con chung: anh Đ đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị K với mức cấp dưỡng là 1.500.000 đồng/01 tháng/01 con chung. Ông X, bà H đồng ý mức với đề nghị của anh Đ.

Xét đề nghị của anh Đ, Hội đồng xét xử thấy: Theo quy định tại Điều 107 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình quy định thì cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên. Do vậy, đề nghị của anh Đ là có căn cứ.

Về mức cấp dưỡng theo quy định tại Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình và khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và Gia đình quy định: “Các đương sự có quyền thỏa thuận về mức cấp dưỡng, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa quyết định nhưng không được thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi con”. Như vậy, căn cứ vào quy định trên thì thấy đề nghị của anh Đ tự nguyện cấp dưỡng với mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/01 tháng/01 con chung là phù hợp, không trái quy định pháp luật nên chấp nhận đề nghị của anh Đ. Buộc anh Nguyễn Duy Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 25/7/2009 và cháu Nguyễn Chí T, sinh ngày

21/3/2011 với mức cấp dưỡng là 1.500.000 đồng/01 tháng/ 01 con chung. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9 năm 2024 đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là có căn cứ và phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[7]. Về lãi suất chậm thi hành án: Do vắng mặt anh Đ, chị K nên không thể thỏa thuận được. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định theo quy định pháp luật.

[8]. Đối với công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L, T từ tháng 01/2023 đến nay và sau này. Ông X, bà H không yêu cầu nên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9]. Về tài sản, công nợ chung: Do anh Đ, chị K, ông X, bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[10]. Về án phí: Anh Nguyễn Duy Đ phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[11]. Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đ phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

[12]. Về quyền kháng cáo:

Anh Nguyễn Duy Đ, ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước, nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị K vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy Đ.

1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Duy Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị K.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 25/7/2009 và cháu Nguyễn Chí T, sinh ngày 21/3/2011 cho chị Nguyễn Thị K nuôi dưỡng cho đến khi cháu L, cháu T đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu L, T cho ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị H nuôi dưỡng cho đến khi chị Nguyễn Thị K về nước sinh sống.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Duy Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh Đ thực hiện quyền này.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc anh Nguyễn Duy Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 25/7/2009, cháu Nguyễn Chí T, sinh ngày 21/3/2011 cùng chị Nguyễn Thị K với mức cấp dưỡng hàng tháng là 1.500.000đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng)/01cháu/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Duy Đ phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001348 ngày 27/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Nguyễn Duy Đ đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Duy Đ phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

6. Về quyền kháng cáo bản án:

Anh Nguyễn Duy Đ, ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Chị Nguyễn Thị K có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 281/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 281/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa anh Đ và chị K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger