TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 281/2024/HS-PT Ngày: 12-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh;
Ông Lê Khắc Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 242/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Lê Phúc T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Phúc T (tên gọi khác: không), sinh năm: 1991, tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Phú K, sinh năm 1944 và con bà Trần Thị X, sinh năm 1946 (chết); Gia đình bị cáo có 09 người con, bị cáo là con út; Vợ: Dương Thị Kiều T1, sinh năm 1989; Con: có 01 người sinh năm 2011; Tiền sự: không; Tiền án: không; Tạm giữ: không; Tạm giam: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện đang trú: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 20/01/2024 sau khi ăn giỗ tại nhà xong Lê Phúc T điều khiển xe mô tô biển số 66K2 - 4265 chở cháu ruột là Nguyễn Hữu Đ đi đến bến đò Doi Lửa để uống cà phê, đồng thời để tìm T2 và H con ông Nguyễn Văn H1 để giải quyết mâu thuẫn trước đó 10 ngày T đã bị cha con ông H1 đánh mà xã chưa giải quyết, tuy nhiên không gặp được T2 và H, nhưng gặp ông Nguyễn Văn H1 đang cầm ghế đi cặp đường, T cố ý điều khiển xe đụng vào vùng hong trái của ông H1 nhằm trả thù mâu thuẫn giữa T với các con ông H1, hành động này đã làm tất cả T, Đ và ông H1 đều ngã xuống đường, T đứng dậy lấy dây xích bằng kim loại dài 01m định đánh ông H1 nhưng được Đ can ngăn nên T cùng Đ lên xe chạy về nhà, ông H1 được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đ điều trị đến ngày 29/01/2024 thì ra viện và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với T.
Quá trình điều tra bị cáo Lê Phúc T đã khai nhận thương tích của Nguyễn Văn H1 là do bị cáo cố ý dùng xe mô tô đụng vào gây ra nhằm giải quyết mâu thuẫn với các con ông H1 đã xảy ra trước, nhưng xã chưa giải quyết, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Theo kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 170/KLTTCT-TTPYĐT ngày 02/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: thương tích đối với Nguyễn Văn H1 như sau: Sẹo vết thương phần mềm vùng chẩm trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương: 01%; Sẹo vết thương phần mềm mặt sau trên khuỷu tay trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương: 01%; Sẹo vết thương phần mềm mặt sau trong 1/3 dưới cẳng tay trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương: 01%; chấn thương phần mềm vùng lưng bên trái hiện không thấy dấu vết thương tích, không cho tỷ lệ phần trăm; Gãy xương sườn số 5, 6, 7, 9 bên trái can xấu, mỗi xương gãy 2,5%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H1 tại thời điểm giám định là 12% theo nguyên tắc cộng lùi; Các tổn thương trên do vật tày gây ra.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình đã quyết định:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Phúc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Xử phạt Lê Phúc T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, bị cáo Lê Phúc T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Phúc T với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp thêm xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn đang nuôi cha già bị bệnh đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo. Nhưng xét thấy mức hình phạt 03 (ba) năm tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Phúc T giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Phúc T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Khoảng 10 giờ ngày 20/01/2024, do có mâu thuẫn với T2 và H con ông Nguyễn Văn H1 trước đó, nên sau khi ăn giỗ tại nhà xong bị cáo điều khiển xe mô tô, phía sau chở Nguyễn Hữu Đ đi đến nhà ông Nguyễn Văn H1 ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để tìm T2 và H đánh trả thù. Tuy nhiên do không gặp được T2 và H mà bị cáo gặp ông Nguyễn Văn H1 đang cầm ghế đi ven đường và bị cáo đã điều khiển xe đụng vào hông trái của ông H1 mục đích là gây thương tích cho ông H1, theo kết quả giám định thì ông H1 bị thương tích nhiều vùng cơ thể bên trái, gãy 04 xương sườn tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Lê Phúc T là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức được việc cố ý điều khiển phương tiện giao thông gây thương tích cho bị hại là nguy hiểm, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện chứng tỏ lỗi của bị cáo là lỗi cố ý và việc thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Phúc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp thêm xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn đang nuôi cha già bị bệnh đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo nhưng mức hình phạt 03 (ba) năm tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là đã phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cáo của bị cáo Lê Phúc T, giữ nguyên phần quyết định của án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Lê Phúc T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Phúc T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
2. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Phúc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Xử phạt Lê Phúc T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Lê Phúc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 281/2024/HS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 281/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm.
