Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP


Bản án số: 282/2024/HS-PT

Ngày: 13-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.

Các thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt;

Ông Lê Khắc Thịnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 237/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2024/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh T; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh năm 1987; Nơi thường trú và chỗ ở: Số B, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị P; Vợ tên: Nguyễn Thị Loan A, sinh năm 1985; Có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Nguyễn Thanh T hiện đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo khác, bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn T1 và Nguyễn Thanh T cùng làm thuê cho nhà máy N ở xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Vào ngày 21/3/2024, sau khi đi làm về T1 và T ghé uống rượu tại nhà anh Nguyễn Văn R. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô biển số 66P1 – 918.09 và Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô 66K2 – 3032 đi về, 02 xe mô tô chạy trên đường đal đến đoạn gần cầu X thuộc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, T1 gặp Nguyễn Minh D điều khiển xe mô tô 66N5 – 0109 phía sau chở Trần Văn Minh V chạy hướng ngược lại, do nghi vấn D và V là đối tượng trộm chó nên T1 gọi “Ê mấy thằng bây dừng lại” thì D dừng xe lại, V xuống xe và xảy ra cự cãi với T1. Tuẩn nhảy qua lan can cầu X xuống đường đal và dùng tay đánh nhau với V, thấy vậy T cũng đi xuống xe để đánh V tiếp T1. Do nhìn thấy V bị T1 và T đánh nên D xuống xe đi lại dùng tay nắm áo của T1 và Tân lôi ra, lúc này T1 và T quay sang đánh D, V chạy thoát trốn sau nhà người dân.

Khi T đang đánh nhau với D, T1 nhớ lại có mang theo 01 cây kéo bằng kim loại (dài 23cm, tay cầm có ốp nhựa màu đen) để đi làm thuê treo trên xe mô tô biển số 66P1 – 918.09 nên đi đến lấy cây kéo và đi trở lại vị trí T và D đang đánh nhau. Lúc này, T1 nhìn thấy T đang ôm D từ phía sau, lưng của D tựa vào ngực của T nên T1 cầm cây kéo trên tay trái đâm 02 cái trúng vào ngực phải, mặt truớc cánh tay trái của D, lúc này D vùng vẫy bỏ chạy thì T1 tiếp tục cầm cây kéo đâm 01 cái trúng vào bả vai phải của D. T tiếp tục đuổi theo D đến nhà ông Huỳnh Văn Đ thấy trên người D có nhiều máu nên quay lại nhìn thấy T1 trên tay còn cầm cây kéo nên T hỏi “Mầy đâm người ta hả gì máu me tùm lum” nhưng T1 không trả lời và đưa T lấy cây kéo. T thấy cây kéo dính máu nên ném cây kéo xuống bãi cỏ gần vị trí đánh nhau, T1 và T tiếp tục ở lại hiện trường đến khi Công an xã L đến xác minh sự việc. D được mọi người đưa đi cấp cứu ở Trung tâm Y tế huyện L sau đó chuyển đến Bệnh viện Đ1 để điều trị, đến ngày 01/4/2024 thì được xuất viện về nhà.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám nghiệm hiện trường và thu giữ tại hiện trường gồm: Vết máu dạng đã khô tại vị trí số 7 và số 12 theo ký hiệu trên sơ đồ hiện trường (đã được niêm phong theo quy định); 01 nón kết màu đen có chữ “Louis Vuitton” của Lê Văn T1; 01 đôi dép màu vàng đất có chữ “Nghệ Thành” của Nguyễn Minh D; 01 đôi dép màu đen không nhãn hiệu, 01 thanh kim loại sơn màu trắng hai đầu móc cong dài 1,2m và 02 cây cưa tay cán bằng gỗ màu vàng lưỡi bằng kim loại màu đen của Trần Văn Minh V; Lê Văn T1, Nguyễn Minh D và Trần Văn Minh V không yêu cầu nhận lại các đồ vật đã bị tạm giữ.

Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Thanh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tổ chức truy tìm cây kéo là hung khí gây án. Kết quả đã tìm được và thu giữ 01 cây kéo có đặc điểm màu nâu đen đã rỉ sét dài 23cm, tay cầm có ốp nhựa màu nâu đen dài 10cm, lưỡi kéo dài 13cm có cạnh sắc mũi nhọn, trên lưỡi kéo có dấu vết màu nâu đỏ đã khô ở gần hiện trường vụ án (đã được niêm phong theo quy định). Sau đó, Lê Văn T1 đã nhận dạng xác định cây kéo đã truy tìm được là hung khí T1 sử dụng để gây thương tích cho D.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ:

Của Nguyễn Thanh T: 01 áo thun dài tay màu xanh, mặt trước áo có dính rải rác các vết màu nâu đỏ và 01 quần ngắn bằng vải màu xám, phần ống quần bên trái và bên phải có dính rải rác các vết màu nâu đỏ (là áo, quần mà Tân mặc trên người khi gây thương tích cho D; T không yêu cầu nhận lại quần áo); tất cả được niêm phong theo Biên bản niêm phong lập vào lúc 17 giờ 25 phút ngày 22/3/2024;

Của Lê Văn T1: 01 áo thun ngắn tay màu xám, mặt trước áo có chữ BECH'S ICE, sau lưng có chữ “Quán nhậu Chánh Mập 0903.383.952” ở mặt trước áo và ống tay áo bên trái có dính rải rác các vết màu nâu đỏ và 01 quần dài vải thun màu xanh, dọc theo 02 bên ống quần kéo dài từ lưng quần xuống đến lai quần có ba đường vải trắng song song, mặt ngoài ống quần bên phải có dính vết màu nâu đỏ (là áo, quần mà T1 mặc trên người khi gây thương tích cho D; Tuẩn không yêu cầu nhận lại quần áo); tất cả được niêm phong theo Biên bản niêm phong lập vào lúc 18 giờ 25 phút ngày 22/3/2024.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể trên người sống số 241/KLTTCT-TTPY ĐT, ngày 02/5/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ ghi nhận:

Kết quả khám giám định: Sẹo vết thương phần mềm ngực phải đến nách phải, kích thước trung bình; Sẹo vết thương phần mềm trước 1/3 trên cánh tay trái, kích thước trung bình; Sẹo vết thương phần mềm bả vai phải, kích thước lớn; Vết thương phần mềm ngực phải đến nách phải có đứt nhánh ngực của động mạch nách đã được xử trí kết quả tốt không có biểu hiện tắt mạch.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Minh D tại thời điểm giám định là 15%.

Các tổn thương trên do vật sắc nhọn gây ra, cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động.

Tại Kết luận giám định số 470/KL-KTHS, ngày 15/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ ghi nhận: Trên cây kéo được niêm phong trong hộp giấy có dính máu người, thuộc nhóm máu O; trên miếng bông gòn được niêm phong trong bao thư kí hiệu số 7 có dính máu người, thuộc nhóm máu O; trên miếng bông gòn được niêm phong trong bao thư kí hiệu số 12 có dính máu người, thuộc nhóm máu O. Một cây kéo sau khi giám định đã niêm phong trong túi ghi “Niêm phong số 470, ngày 17/4/2024”, có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K-Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên Đỗ T2 và Dương Ngọc S; tất cả các miếng bông gòn gửi giám định đã sử dụng hết cho công tác giám định.

Đối với Trần Văn Minh V bị thương phù nề ở vùng mặt bên phải và bị trầy xước tay trái khi đánh nhau với Lê Văn T1 và Nguyễn Thanh T; do thương tích không đáng kể nên V đã tự nguyện làm đơn không yêu cầu xử lý hình sự, bồi thường thiệt hại và từ chối giám định thương tích.

Bị cáo Lê Văn T1 và Nguyễn Thanh T đã bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm với số tiền 106.000.000 đồng (trong đó T1 bồi thường 64.000.000 đồng và T bồi thường 42.000.000 đồng) theo yêu cầu của người bị hại Nguyễn Minh D.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2024/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò đã quyết định:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 17, Điều 38, Điề 54 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thanh T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo rút lại kháng cáo xin hưởng án treo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thanh T với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại, xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn đang nuôi cha già và 02 con nhỏ đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Xét thấy mức hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 21/3/2024 tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, do mâu thuẫn khi cự cãi, Lê Văn T1 và Nguyễn Thanh T dùng tay đánh nhau với Nguyễn Minh D. Trong lúc Tân ôm D từ phía sau tạo điều kiện thuận lợi cho Lê Văn T1 cầm cây kéo là hung khí nguy hiểm trên tay trái đâm 03 cái trúng vào ngực phải, mặt truớc cánh tay trái và bả vai phải của D với tỷ lệ tổn thương cơ thể 15% tại thời điểm giám định.
  2. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức được việc dùng hung khí nguy hiểm là cây kéo đâm vào người khác là gây thương tích, vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình giúp sức cho bị cáo khác thực hiện hành vi chứng tỏ lỗi của bị cáo là lỗi cố ý và việc thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
  3. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại, xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn đang nuôi cha già và 02 con nhỏ, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Xét thấy mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T, giữ nguyên phần quyết định của án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
  4. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  5. Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;

  1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
  2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 17, Điều 38, Điề 54 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Lấp Vò (02 bản);
  • - VKSND huyện Lấp Vò ;
  • - Chi cục THADS huyện Lấp Vò ;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Lấp Vò ;
  • - Cơ quanTHAHS CA huyện Lấp Vò ;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA, (Hào).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 282/2024/HS-PT ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 282/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger