Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 281/2024/HS-ST

Ngày: 10/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai văn Thuận
  2. Ông Đặng Trần Khoa

Thư ký phiên tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Trưng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 361/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 316/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN KHÁNH T

- sinh ngày: 28/11/1996 tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 222/3 P, phường P, N, Khánh Hòa; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Phước K - sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị Thanh C – sinh năm: 1961; Bị cáo chưa có vợ, con.

Bị cáo có 02 tiền án:

  • - Bản án số 268/2022/HS-ST ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/4/2024;
  • - Bản án số 82/2023/HS-ST ngày 28/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/4/2024;

Tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố N từ ngày 25/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Bà Lương Bích V - sinh năm: 2002. Địa chỉ: TDP P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị Tuyết H - sinh năm: 1974. Địa chỉ: TDP P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Ông Ngô Tùng G - sinh năm 1985. Địa chỉ: 1 H, phường L, tp N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  2. Ông Lê Thái V1 - sinh năm 1984. Địa chỉ: A T, phường P, tp N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm và cần tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Khánh T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 24/8/2024, T đi bộ dọc bờ biển đường T, thành phố N để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đến khu vực bãi đỗ xe đoạn đối diện đường L, Nguyễn Khánh T quan sát thấy có nhiều xe mô tô đang đỗ, không người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau khi quan sát xung quanh, T đến gần lén lút lấy trộm xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 79D1-456.55 của chị Lương Bích V để ở ngoài cùng rồi dắt về nhà. Khi đến đoạn đường Y, phường L, thành phố N thì bị lực lượng tuần tra Cảnh sát giao thông – trật tự phát hiện kiểm tra hành chính, sau đó đưa T cùng tang vật về trụ sở Công an phường L để giải quyết. Tại Cơ quan Công an, T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và dẫn đi xác định địa điểm trộm cắp tài sản nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 893/KL-HĐĐGTS ngày 30/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N, kết luận: xe máy hiệu HONDA - AIR BLADE (BKS: 79D1 – 456,55) tại thời điểm định giá (tháng 8/2024) có giá trị là 9.500.000 (Chín triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 304/CT-VKSNT-HS ngày 08/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố Nguyễn Khánh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự và án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Xét thấy tại phiên tòa, việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không gây trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Nguyễn Khánh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe nhưng không sử dụng sức lao động của mình để làm việc chân chính nuôi sống bản thân mà lại trộm cắp tài sản của người khác. Bị có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp "Tái phạm" được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Điều này thể hiện bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp đã trả lại cho bị hại. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bà Lương Bích V và Lê Thị Tuyết H không yêu cầu bồi thường nên không xét.

[5] Về vật chứng vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xanh, biển kiểm soát: 79D1 456.55; số khung RLHJF6305FZ132936, số máy JF63E-1487009 (đã trả lại cho chủ sở hữu bà Lê Thị Tuyết H).

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khánh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Khánh T.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khánh T 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Bà Lương Bích V và Lê Thị Tuyết H không yêu cầu bồi thường nên không xét, nếu có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
  4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Bị cáo Nguyễn Khánh T nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nguyễn Vũ L

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 281/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 281/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bc Toàn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger