|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 281/2024/HS-ST Ngày 21-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Song Hải
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hà Thị Nga
- Bà Nguyễn Thị Bích Lý.
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Trần Hùng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 233/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1010/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Dương Hoàng L, sinh ngày 26 tháng 4 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Số A P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Đ và bà Bùi Thị L1; chưa có vợ con; tiền án: Bản án số 22/2016/HSST ngày 03/3/2016 Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt cả hai tội là 48 tháng tù; Bản án số 117/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đều chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 09/01/2024; tạm giam ngày 16/01/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 09/01/2024, tổ công tác Công an phường N, quận L, Hải Phòng kiểm tra hành chính nhà số A P, phường N, quận L, Hải Phòng. Tại thời điểm kiểm tra trong nhà có Dương Hoàng L. Quá trình kiểm tra L tự nguyện lấy từ mặt bàn trong phòng tầng 3 giao nộp cho tổ công tác, cụ thể:
- 01 túi giấy màu đỏ bên trong có: 01 túi nilon màu trắng mép dán màu đỏ kích thước 05cm x 08cm bên trong chứa chất bột màu nâu đỏ nghi là ma túy (mẫu KT1) và 01 túi nilon màu trắng mép dán màu đỏ kích thước 10cm x 06cm bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (mẫu KT2).
- 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng bên trên có chất bột màu nâu đỏ nghi là ma túy (mẫu KT3).
- 01 túi nilon màu trắng mép dán màu đỏ bên trong có chất bột màu nâu đỏ nghi là ma túy (mẫu KT4).
- 04 ống hút; 04 coóng thủy tinh; 01 bật lửa khò; 50 vỏ túi nilon màu vàng cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.
Tổ công tác đã niêm phong toàn bộ số tang vật trên và đưa L về trụ sở lập biên bản.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Hoàng L tại nhà số A P, phường N, quận L, Hải Phòng theo Lệnh khám xét khẩn cấp số 38/LKX-CSMT ngày 09/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, đã thu giữ:
- Trong ngăn thứ nhất của tủ quần áo tại phòng tầng 2 có một chiếc áo khoác bên trong túi áo phía trước bên phải có:
- 01 túi nilon kích thước 06cm x 09cm đựng chất bột màu tím (Mẫu KX1)
- 01 vỉ nhựa dạng vỉ thuốc bên trong chứa 09 viên nén màu nâu (Mẫu KX2)
- 01 túi nilon trắng mép viền đỏ chứa 04 viên nén màu nâu (Mẫu KX3)
- 01 túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 05cm x 08cm chứa chất bột màu tím (Mẫu KX4)
- 01 túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 05cm x 08cm chứa chất bột màu hồng (Mẫu KX5)
- 01 gói nilon được hàn kín chứa 03 viên nén màu hồng (Mẫu KX6)
- Trong ngăn thứ hai của tủ quần áo tại phòng tầng 2 có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá;
- Trong ngăn thứ ba tủ quần áo tại phòng tầng 2 có:
- 01 túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 04cm x 07cm chứa 15 viên nén màu hồng (Mẫu KX7)
- 01 cân điện tử; 20 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 05cm x 08cm.
- Trên giá inox có 01 túi vải bên trong có 01 túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 08cm x 14cm chứa chất bột màu hồng (Mẫu KX8)
- Dưới gầm bàn trong phòng tầng 3 có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
- Tầng một có 01 xe máy điện mang biển kiểm soát: 15MĐ8 - 014.22
Tại bản Kết luận giám định số 37/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
- Mẫu KT1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,95 gam, là loại MDMA + Ketamine + Methamphetamine.
- Mẫu KT2 gửi giám định là đường S và A, có khối lượng 25,21 gam, không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất.
- Mẫu KT3 gửi giám định là ma túy, không đủ điều kiện xác định khối lượng, là loại Methamphetamine.
- Mẫu KT4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,07 gam, là loại Methamphetamine.
Tại bản Kết luận giám định số 39/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
- Mẫu KX1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 8,56 gam, là loại MDMA.
- Mẫu KX2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,55 gam, là loại Nitrazepam.
- Mẫu KX3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,89 gam, là loại MDMA.
- Mẫu KX4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,42 gam, là loại MDMA.
- Mẫu KX5 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,05 gam, là loại Methamphetamine.
- Mẫu KX6 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3 gam, là loại Methamphetamine.
- Mẫu KX7 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,5 gam, là loại Methamphetamine.
- Mẫu KX8 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 19,32 gam, là loại MDMA + Ketamine + Methamphetamine.
Bản kết luận giám định số 1875/KL-KTHS ngày 25/3/2024 của V Bộ C2 kết luận:
- Trong mẫu KT1, hàm lượng chất ma túy Methamphetamine là 0,17% (tương ứng với 0,001615 gam), MDMA là 28,8% (tương ứng với 0,2736 gam), còn lại là Ketamine (tương ứng với 0,674785 gam).
- Trong mẫu KX8, hàm lượng chất ma tuý Methamphetamine là 0,14% (tương ứng với 0,027048 gam), MDMA là 30,2% (tương ứng với 5,83464 gam), còn lại là Ketamine (tương ứng với 13,458312 gam).
Tại Cơ quan điều tra, Dương Hoàng L khai: Từ khoảng tháng 5 năm 2023 L sinh sống cùng Nguyễn Thu N, sinh năm 1987 tại nhà số 17/15/88 Phạm Hữu Đ1 (nhà do Nguyễn Thu N thuê). L và Thu N bàn bạc mua ma túy của Doãn Thị Tuyết N1 (tên thường gọi: N2), sinh năm 1989, địa chỉ: Số B H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng để chia ra bán kiếm lời. L đã mua cân điện tử và nhiều túi nilon nhỏ để khi nào mua được ma túy sẽ chia nhỏ ma túy ra bán kiếm lời. Từ tháng 5/2023 đến ngày 09/01/2024 L và Thu N đã nhiều lần mua ma túy của Tuyết N1 và đã bán hết, L không nhớ cụ thể những lần mua bán ma túy trước đó.
Khoảng đầu tháng 10/2023 qua mạng xã hội Facebook, L đã giao dịch mua ma túy của một nam giới không quen biết khoảng 20 gam ma túy nước vui chưa đóng gói cùng 01 vỉ thuốc an thần và một số vỏ túi nilon màu vàng. Sau đó L tiếp tục mua ma túy của một nam giới khác tên T khoảng 10 gam bột thuốc lắc, 20 gam đường và 20 viên hồng phiến với mục đích nghiền và trộn các chất với nhau, chia nhỏ đóng vào các túi nilon màu vàng thành ma túy nước vui để bán kiếm lời. Trộn xong L đã sử dụng một ít, số ít còn lại L bán cho một nam giới không quen biết, kết quả sử dụng không “phê” nên L đã để lại toàn bộ số ma túy đã mua được để khi nào tìm được cách pha chế mới thì tiếp tục trộn vào để bán.
Ngày 21/12/2023 L và Thu N đặt mua của Tuyết Nhung 21 gói ma túy nước vui C, 23 gam ma túy Ketamine, 05 gói ma túy nước vui “Xoài” với giá 1.500.000 đồng/ 01 gói nước vui và 500.000 đồng/ 01 gam Ketamine, tổng số tiền mua ma túy là 50.500.000 đồng. Tuyết Nhung mang ma túy đến nhà số 17/15/88 Phạm Hữu Đ1 đưa cho Thu N, L đã dùng cân điện tử kiểm tra thấy đủ khối lượng đã đặt mua. L đã chuyển khoản cho Tuyết N1 vào các ngày 21/12/2023 và 22/12/2023 với số tiền lần lượt là 18.000.000 đồng và 37.500.000 đồng bao gồm tiền mua ma túy và trả nợ. Sau đó L đã bán ma túy cho nhiều người quen xã hội với giá 2.100.000 đồng/ 01 gói ma túy nước vui, 800.000 đồng/ 01 gam Ketamine, L thu lời 600.000 đồng/ 01 gói ma túy nước, 300.000 đồng/ 01 gam Ketamine. L không nhớ được lai lịch, địa chỉ cụ thể của những người đã mua ma túy của L, không nhớ thời gian, địa điểm, cách thức giao dịch. L không nhớ tổng số tiền thu lời bất chính từ việc bán ma túy do L vừa bán vừa sử dụng hết lượng ma túy đã mua được.
Khoảng 17 giờ ngày 08/01/2024, L về nhà số A P, phường N, quận L, Hải Phòng thấy trong nhà có Nguyễn Thu N và Doãn Thị Tuyết N1 đang ở phòng tầng 3. Lúc này, có Trương Tất Đ2, sinh năm: 2001, trú tại: Số C T, V, Lê C1, Hải Phòng gọi điện cho L đòi tiền nợ, L hẹn Đ2 đến nhà để nói chuyện. Khi Đ2 đến nhà, L bảo đang chuẩn bị tiền một lúc nữa có tiền sẽ gọi Đ2 đến lấy, Đ2 đồng ý rồi ra về. Khoảng 0h ngày 09/01/2024, Đ2 và Lê Tùng N3, sinh năm: 2005; trú tại: Số C T, V, Lê C1, Hải Phòng đi xe mô tô đến gặp L ở đường T để đòi nợ như đã hẹn. Tiếp đó, L dẫn Đ2 và N3 đi về nhà số A P. Khi L, Đ2, N3 về nhà một lúc thì gặp Doãn Thị Tuyết N1 đi từ trên tầng xuống rời khỏi nhà L đi về. Sau đó, giữa Thu N và L xảy ra cãi nhau nên Thu N bỏ ra ngoài. L cũng bảo Đ2 và N3 đi về hẹn hôm sau sẽ trả lại tiền cho Đ2. Khi Đ2 và N3 ra khỏi nhà, L đi lên tầng 3 dọn dẹp thì bị Tổ công tác Công an phường N, L, Hải Phòng kiểm tra, bắt giữ. L khai toàn bộ số ma túy khi kiểm tra và khám xét tại nhà L là của L mua trên mạng xã hội của một người đàn ông không quen biết và của T vào khoảng đầu tháng 10/2023. L chưa kịp bán thì bị phát hiện, bắt giữ.
Doãn Thị Tuyết N1 khai không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Dương Hoàng L. Tuyết Nhung không mua bán ma túy với Thu N và L. Ngoài ra, Tuyết N1 khai không nhận số tiền 18.000.000 đồng và 37.500.000 đồng để bán ma túy cho L. L và Thu N có vay tiền của Tuyết N1, việc vay tiền không có giấy tờ, thỉnh thoảng L và Thu N có chuyển khoản tiền trả nợ cho Tuyết N1.
Nguyễn Thu N khai không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Dương Hoàng L. Nguyễn Thu N và Doãn Thị Tuyết N1 không mua bán ma túy với nhau và với L.
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho L đối chất với Thu N và Tuyết N1, kết quả các bên đều giữ nguyên lời khai như trên.
Việc L khai L và Thu N đã mua ma túy của Tuyết N1 nhiều lần mang về chia nhỏ bán cho nhiều người, ngoài lời khai của L không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ xác định Tuyết N1, Thu N phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và không đủ căn cứ xác định L phạm tội nhiều lần. Hiện Nguyễn Thu N đang chấp hành án phạt tù về tội Cố ý gây thương tích và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Trương Tất Đ2 khai đến nhà L để đòi tiền của L đã vay nợ Đ2 trước đó. Đ2 không đến nhà L để mua ma túy. Lê Tùng N3 khai đi cùng Đ2 đến nhà L để Đ2 đòi tiền của L, ngoài ra không biết gì khác.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy: Dương Hoàng L dương tính với chất ma túy Ketamine và M; Doãn Thị Tuyết N1 dương tính với chất ma túy MDMA và Methamphetamine. Trương Tất Đ2, Lê Tùng N3 âm tính với chất ma túy. Công an
quận L đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Doãn Thị Tuyết N1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với những đối tượng mua và bán ma túy cho L, hiện chưa rõ lai lịch địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Tại bản Cáo trạng số 243/CT-VKSLC ngày 13/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Dương Hoàng L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm p, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Hoàng L mức án từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong số 37/MT-A/PC09, 39/MT-A/PC09, 1875/C09(TT2) đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định, 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 cân điện tử, 20 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 05cm x 08cm, 04 ống hút, 04 coóng thủy tinh, 01 bật lửa khò, 50 vỏ túi nilon màu vàng;
Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của bị cáo và số tiền 10.000 đồng.
Đối với chiếc xe máy điện mang biển kiểm soát: 15MĐ8 - 014.22 quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 09/01/2024 tại nhà số A P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng, Dương Hoàng L bị bắt giữ khi đang cất giữ trái phép 18,926903 gam ma túy loại Methamphetamine + MDMA và 15,683097 gam ma túy loại Ketamine + Nitrazepam để bán cho người khác nhằm mục đích kiếm lời. Hành vi của bị cáo thỏa mãn cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vi phạm Điều 251 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Theo hướng dẫn tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine + MDMA so với mức tối thiểu của Methamphetamine + MDMA được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 63,09%.
Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine + Nitrazepam so với mức tối thiểu của Ketamine + Nitrazepam được quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 15,68%.
Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine, MDMA, Ketamine, N4 so với mức tối thiểu của từng chất ma túy quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 63,09% + 15,68% = 78,77% (dưới 100%), nên bị cáo Dương Hoàng L phải chịu tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra bị cáo có 02 tiền án chưa được xoá: Bản án số 22/2016/HSST ngày 03/3/2016 Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt cả hai tội là 48 tháng tù, chấp hành xong ngày 21/7/2018 và Bản án số 117/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 23/5/2022. Vì vậy lần phạm tội này bị cáo thực
hiện với lỗi cố ý nên phải chịu thêm tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[4] Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ từ tháng 2/2013 đến tháng 7/2014 nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân và với lượng ma túy mà bị cáo cất giữ trái phép để bán kiếm lời, cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và trên cơ sở quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 5.000.000 đồng đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận L đang quản lý vật chứng của vụ án. Đối với 03 phong bì niêm phong số 37/MT-A/PC09, 39/MT-A/PC09, 1875/C09(TT2) đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 cân điện tử, 20 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 05cm x 08cm, 04 ống hút, 04 cóong thủy tinh, 01 bật lửa khò, 50 vỏ túi nilon màu vàng, là những vật không có giá trị nên cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có số IMEI: 351359671636665 thu giữ của bị cáo số tiền 10.000 đồng là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1
Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm p, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Dương Hoàng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Hoàng L 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 01 năm 2024.
Phạt bị cáo Dương Hoàng L số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong số 37/MT-A/PC09, 39/MT-A/PC09, 1875/C09(TT2) đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định, 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 cân điện tử, 20 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 05cm x 08cm, 04 ống hút, 04 coóng thủy tinh, 01 bật lửa khò, 50 vỏ túi nilon màu vàng;
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có số IMEI: 351359671636665 không lên nguồn và số tiền 10.000 đồng (mười nghìn đồng).
(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và Biên bản giao nhận tài sản ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Kho bạc Nhà nước H).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Song Hải |
Bản án số 281/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 281/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Hoàng Long
