Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 291/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-9-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến

Ông Đỗ Văn Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 187/2024/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 167/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị T, sinh năm 1993 (vắng mặt)
  2. Nơi thường trú: Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại Đài Loan).

    Đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng: Công ty L và Cộng sự; địa chỉ: Ngõ D D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn T1 - Giám đốc Công ty (văn bản ủy quyền ngày 30/5/2024).

    Người thực hiện công việc ủy quyền: Bà Lô Thị Lan H, sinh năm 2002, địa chỉ: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An là nhân viên Công ty L và Cộng sự (theo Quyết định số 2806/2024/QĐ-KP ngày 28/6/2024, không triệu tập chị H)

  3. Bị đơn: Anh Hứa Văn S, sinh năm 1990 (vắng mặt)
  4. Nơi thường trú và địa chỉ cuối cùng ở Việt Nam của anh S: Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Hiện anh S đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  6. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969 (vắng mặt)

1

Địa chỉ: Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai (có xác nhận của Văn phòng K tại Đ ngày 30/5/2024), nguyên đơn chị Dương Thị T trình bầy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hứa Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc trong thời gian đầu, sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng trong hôn nhân, nguyên nhân chủ yếu là bất đồng về quan điểm sống, tính cách vợ chồng không thể hòa hợp được, vợ chồng không có tiếng nói chung. Năm 2021 chị đi lao động tại Đài Loan, năm 2023 anh S đi lao động tại Nhật Bản. Trong thời gian ở nước ngoài, mâu thuẫn giữa chị và anh S ngày càng trở nên trầm trọng hơn, chị và anh S đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm, gia đình hai bên cũng đã tiến hành động viên, khuyên bảo vợ chồng chị nhiều lần nhưng không đạt kết quả. Chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Hứa Văn S.

Về con chung: Chị và anh S có 02 con chung là cháu Hứa Văn D, sinh ngày 22/10/2012 và Hứa Văn T3, sinh ngày 02/12/2017. Hiện con chung đang sống cùng với mẹ anh S là bà Nguyễn Thị T2. Do chị và anh S đều đang ở nước ngoài nên chị đề nghị giao cháu D và cháu T3 cho anh S nuôi dưỡng và đề nghị tạm giao cháu D và cháu T3 cho bà Nguyễn Thị T2 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh S ở nước ngoài.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị T trình bầy: Do chị đang lao động tại Đài Loan, chị không thể đến Tòa án để tham tố tụng nên chị đề nghị vắng mặt trong các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nói trên. Chị ủy quyền nhận văn bản tố tụng cho: Công ty L và Cộng sự; địa chỉ: Ngõ D D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn T1 - Giám đốc Công ty (giấy ủy quyền ngày 30/5/2024). Người thực hiện công việc ủy quyền: Bà Lô Thị Lan H, sinh năm 2002, địa chỉ: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An là nhân viên Công ty L và Cộng sự (theo Quyết định số 2806/2024/QĐ-KP ngày 28/6/2024).

Anh Hứa Văn S là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 trình bầy: Chị T và anh S kết hôn năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị T và anh S chung sống với nhau bình thường đến khi chị T làm đơn ly hôn với anh S thì bà mới biết vợ

2

chồng có mâu thuẫn, bà đã gọi điện cho chị T và anh S để động viên và khuyên bảo để anh, chị đoàn tụ nhưng không đạt kết quả.

Về con chung: Chị T và anh S có 02 con chung là cháu Hứa Văn D, sinh ngày 22/10/2012 và Hứa Văn T3, sinh ngày 02/12/2017. Hiện cháu D và cháu T3 đang sống cùng với bà T2. Trước khi đi lao động tại nước ngoài thì chị T và anh S đều nhờ bà chăm sóc, giáo dục cháu D và cháu T3. Do vậy, bà đồng ý với yêu cầu của chị T, giao cháu D và cháu T3 cho anh S nuôi dưỡng và tạm giao cháu D và cháu T3 cho bà nuôi dưỡng trong thời gian anh S ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi cháu D và cháu T3 bà T2 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, bà đã thông báo cho anh S biết việc chị T làm đơn ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung nhưng anh S không gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và từ chối cung cấp địa chỉ hiện tại của anh S tại nước ngoài.

Ngoài ra, bà T2 trình bày bà không thể đến Tòa án để tham tố tụng nên bà đề nghị vắng mặt trong các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nói trên.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/7/2024 cháu Hứa Văn D trình bày:

Hiện cháu đang sống cùng với bà nội là Nguyễn Thị T2 tại bản Tràng Bắn, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nay, bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng sống cùng với bố Hứa Văn S.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Dương Thị T, bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Hứa Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Dương Thị T, biên bản lấy lời khai bà Nguyễn Thị T2, cháu Hứa Văn D và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Dương Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn anh Hứa Văn S không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn anh S. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị T, anh S, bà T2 là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a

3

khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

Về hôn nhân: Cho chị Dương Thị T được ly hôn anh Hứa Văn S.

Về nuôi con chung: Giao cháu Hứa Văn D, sinh ngày 22/10/2012 và Hứa Văn T3, sinh ngày 02/12/2017 cho anh Hứa Văn S nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, tạm giao cho bà Nguyễn Thị T2 nuôi dưỡng trong thời gian anh S ở nước ngoài.

Về án phí: Chị Dương Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Dương Thị T khởi kiện xin ly hôn anh Hứa Văn S và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Chị T, anh S hiện đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Theo Công văn số: 18242/QLXNC-P3 ngày 08/8/2024 của Cục Q - Bộ C cung cấp, anh Hứa Văn S có 01 lượt xuất nhập cảnh, lần gần nhất xuất cảnh ngày 29/9/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vụ án có nguyên đơn chị T, bị đơn anh S hiện nay đang ở nước ngoài. Địa chỉ cuối cùng của anh S ở Việt Nam tại: Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2].Về việc vắng mặt của đương sự:

Về việc vắng mặt của nguyên đơn chị Dương Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt, đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T, bà T2.

Về việc vắng mặt của bị đơn: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn, bà T2 (là mẹ anh S), Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của anh S trước khi xuất cảnh ở bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh S thông qua người thân của anh S là bà Nguyễn Thị T2 (mẹ anh S) và đề nghị bà T2 thông báo cho anh S biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Dương Thị T và bị đơn anh Hứa Văn S. Bà T2 cho biết anh S vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh S không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh S tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến

4

hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn là anh S theo Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tố tụng dân sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị T và anh Hứa Văn S kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 06/01/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh S phát sinh mâu thuẫn, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Hứa Văn S.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Dương Thị T đối với anh Hứa Văn S. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị T và anh S chung sống với nhau hạnh phúc trong thời gian đầu đến năm 2021 chị T đi lao động tại Đài Loan, năm 2023 anh S đi lao động tại Nhật Bản, trong thời gian vợ chồng lao động tại nước ngoài thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng khiến cho vợ chồng chị T, anh S không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Chị T và anh S nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng không đạt kết quả. Ngoài ra, bà T2 là mẹ anh S cung cấp cho Tòa án về quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh S, mâu thuẫn bà không nắm được nhưng khi chị T làm đơn bà đã gọi điện cho chị T và anh S nhiều lần để hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm cho vợ chồng anh, chị nhưng không đạt kết quả. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị T, anh S không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh S, xử cho chị Dương Thị T được ly hôn anh Hứa Văn S như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[4]. Về nuôi con chung: Chị T và anh S có 02 con chung là cháu Hứa Văn D, sinh ngày 22/10/2012 và Hứa Văn T3, sinh ngày 02/12/2017. Sau khi ly hôn chị T có nguyện vọng giao cháu D và cháu T3 cho anh S nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và tạm giao cho bà Nguyễn Thị T2 nuôi dưỡng, chăm sóc trong thời gian anh S ở nước ngoài. Cháu D trên 7 tuổi có nguyện vọng ở cùng bố và bà nội, bà T2 đồng ý nuôi dưỡng cháu D và cháu T3 trong thời gian anh S ở nước ngoài.

Xét yêu cầu của chị T, Hội đồng xét xử thấy: Chị T và anh S hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài. Cháu D và cháu T3 từ khi chị T, anh S đi lao động ở nước ngoài được bà T2 chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Để đảm bảo cho con chung phát triển bình thường, tránh xáo trộn về cuộc sống, môi trường học tập của con chung. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu D và cháu T3 cho anh S là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Do hiện nay anh S đang ở nước ngoài nên tạm giao cháu D và cháu T3 cho bà Nguyễn Thị T2 nuôi dưỡng cho đến khi anh Hứa Văn S về Việt Nam sinh sống là phù hợp quy định Điều 104 Luật Hôn nhân và Gia đình và đảm bảo

5

quyền, lợi ích và nguyện vọng của con chung cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

Sau khi ly hôn chị T không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Trường hợp chị T về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

[5]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6].Về tài sản, công nợ chung: Chị T, anh S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7].Về án phí: Chị Dương Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[8]. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn chị Dương Thị T, bị đơn anh Hứa Văn S đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 đang ở trong nước vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị T.

  1. Về hôn nhân: Chị Dương Thị T được ly hôn anh Hứa Văn S.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Hứa Văn D, sinh ngày 22/10/2012 và Hứa Văn T3, sinh ngày 02/12/2017 cho anh Hứa Văn S nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, nhưng tạm giao cháu Hứa Văn D và cháu Hứa Văn T3 cho bà Nguyễn Thị T2 nuôi dưỡng trong thời gian anh S ở nước ngoài.

    Sau khi ly hôn chị Dương Thị T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này.

  3. Về án phí: Chị Dương Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001360 ngày 02/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Dương Thị T đã nộp xong án phí sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo bản án:

    Chị Dương Thị T, anh Hứa Văn S có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Bà Nguyễn Thị T2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 291/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 291/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị T và anh S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger