|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 281/2024/HS-ST Ngày: 24-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tín
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Thiếu Liên
Ông Lê Văn Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 289/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 387/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo :
Phạm T T; sinh năm 19xx, tại: Thành phố H; Hộ khẩu thường trú: Số a đường số j, phường A, quận B, Thành phố H; Quốc tịch: V; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: K; giới tính: N; nghề nghiệp: K; trình độ học vấn: j/12; con ông Phạm V T và Phạn T V, sinh năm 19xx; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ; Tiền sự: 01. Ngày 28/4/2021, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân ra Quyết định số 458/2021/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 09/7/2022. Tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 24/3/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2013. Bị cáo đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 23/8/2011. Bị cáo bị bắt ngày 23/12/2023 (Có mặt)
Người làm chứng:
1/Ông Vũ M K, sinh năm 19xx; Trú tại: Số j đường H, phường b, quận B, Thành phố H (Vắng mặt).
2/Ông Trần V K, sinh năm 19xx; Trú tại: Số f đường T, phường T, quận B, Thành phố H (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ ngày 23/12/2023, Tổ tuần tra 363 thuộc Công an quận Bình Tân tuần tra, khi đến trước nhà số j, Đường số g, phường A, quận B, Thành phố H, phát hiện Phạm T T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong tay phải của T đang cầm 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. T khai đây là ma túy nên Tổ tuần tra đưa Tuấn cùng vật chứng đến Công an phường Bình Hưng Hòa A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó bàn giao hồ sơ và đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra quận Bình Tân thụ lý theo thẩm quyền.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy sau giám định, được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm T T, Lý V D (Điều tra viên), Huỳnh Q T (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Bình Hưng Hòa A.
- Tại bản Kết luận giám định số 328/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4945g loại Methamphetamine;
- - 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen có số thuê bao 0777531xxx; bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy.
Các vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân chờ xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, bị cáo Phạm T T khai nhận: T nghiện ma túy từ khoảng đầu năm 2010 nên vào lúc 22 giờ ngày 22/12/2023, tại khu vực bến xe An Sương, huyện Hóc Môn, Tuấn đã liên lạc mua số ma túy trên của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá tiền 600.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị kiểm tra, phát hiện và bắt giữ .
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Tại bản cáo trạng số: 263/QĐ-VKS ngày 15/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố bị cáo Phạm T T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân sau khi phân tích nội dung vụ án, phân tích chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên
quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Thanh Tuấn từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có chứa tinh thể không màu bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm T T, Huỳnh Q T (người chứng kiến).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen số thuê bao 0777531xxx.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Trong quá trình điều tra truy tố bị cáo Phạm T T Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, với lời khai của, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật vụ án được thu giữ, phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự qui định. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Hành vi của bị cáo Phạm T T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ ma túy là chất độc hại gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo do chay lười lao động, thích hưởng thụ nên sớm đi vào con đường nghiện ngập. Mặt khác ma túy còn làm người sử dụng tự hủy hoại bản thân mà còn ảnh hưởng đến kinh tế gia đình làm cho xã hội phải gánh chịu hậu quả to lớn do ma
túy để lại, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm lây lan những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với người nghiện ma túy.
Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy, là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ xử lý nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên Tàng trữ trái phép chất ma túy, bất chấp những qui định của pháp luật, điều đó thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, cần có một khoảng thời gian dài cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập cải tạo, từ bỏ con đường nghiện ngập mà phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo, tàng trữ ma túy qua giám định có khối lượng 0,4945g loại Methamphetamine. Do dó, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 để truy tố bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma túy đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính về cai nghiện ma túy nhưng bị cáo vẫn không ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội điều đó thể hiện ý thức rất xem thường pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội nên Hội đồng xét xử cũng cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh bị cáo nên miễn phạt bổ sung.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 gói niêm phong bên trong có chứa tinh thể không màu bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm T T, Huỳnh Q T (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Bình Hưng Hòa A quận Bình Tân qua giám định là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine có khối lượng 0,4945 là vật Nhà nước cấm lưu hành sử dụng nên quyết định tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen số thuê bao 0777531xxx bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phạm T T 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023.
Căn cứ Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có chứa tinh thể không màu bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm T T, Huỳnh Q T (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Bình Hưng Hòa A quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen số thuê bao 0777531xxx.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số NK24/276TV ngày 21/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân)
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tín |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Các hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 281/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 281/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Phạm T T 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023.
