Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 281/2025/DS-ST

Ngày: 06/6/2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Yến.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đoàn Văn Rỹ;
  2. Ông Đỗ Quang Hòa.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bạch Yến - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 (địa chỉ: Số A đường L, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 688/2024/TLST-DS ngày 17/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2025/QĐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
  • Địa chỉ: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng Q, là chuyên viên thu hồi nợ. Là đại diện theo ủy quyền theo các văn bản ủy quyền ngày 22/5/2024 và ngày 07/01/2025. (vắng mặt, có yêu cầu vắng mặt)
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Phước T, sinh năm 1990
  • Địa chỉ: Số B đường D, Phường A (nay là phường R), Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 12/9/2024, các bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S (sau đây viết tắt là Ngân hàng) có người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Hoàng Q trình bày như sau:

Ngày 04/11/2020, ông Nguyễn Phước T có ký với Ngân hàng (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 29/11/2019 - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) cấp thẻ Visa số 472074 - 8627, cụ thể như sau:

  • - Hạn mức sử dụng thẻ tín dụng là 80.000.000đồng;
  • - Mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân;
  • - Lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng; lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại (lãi suất áp dụng từ thời điểm chuyển quá hạn tới hiện này là 2,766%/tháng);
  • - Phí gồm có: Phí trễ hạn; Phí vượt hạn mức; Phí hàng năm (phí thường niên); Phí rút tiền mặt...;

Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ông T phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 838.639.302đồng. Trong thời gian sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến ngày 11/3/2024, ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 759.294.537đồng. Thứ tự thanh toán áp dụng theo điều 21 của Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 29/11/2019 như sau:

  • - Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước;
  • - Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước;
  • - Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước;
  • - Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ;
  • - Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ;
  • - Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Tính đến ngày 11/3/2024, số tiền mà ông T đã giao dịch, đã thanh toán và các khoản nợ phí, nợ lãi như sau:

  • + Tổng tiền lãi trong hạn: 4.980.136đồng;
  • + Phí trễ hạn: 676.000đồng;
  • + Phí vượt hạn mức: 50.000đồng;
  • + Phí khác (phí thường niên, phí rút tiền mặt,...): 598.000đồng.
  • + Giao dịch 838.639.302đồng.

Như vậy, dư nợ của ông T đến ngày 11/3/2024 = 838.639.302đồng – (759.294.537đồng – 4.980.136đồng – 676.000đồng – 50.000đồng – 598.000đồng) = 85.648.901đồng.

Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên từ ngày 11/3/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại theo Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Từ ngày 11/3/2024 đến ngày 28/8/2024, ông T còn nợ các khoản sau:

  • - Nợ gốc là 85.648.901đồng;
  • - Nợ lãi quá hạn = [85.648.901đồng x 150% x 2.766%/tháng/30 ngày = 118.452đồng] x 171 ngày (từ ngày 11/3/2024 đến ngày 28/8/2024) = 20.255.292đồng.

Ngày 29/8/2024, ông T thanh toán 1.237.000đồng.

Từ ngày 29/8/2024 đến ngày 06/6/2025, ông T còn nợ các khoản sau:

  • - Nợ gốc là 84.411.901đồng;
  • - Nợ lãi quá hạn = 20.255.292đồng + [{84.411.901đồng x 150% x 2.766%/tháng/30 ngày = 116.742đồng} x 282 ngày (Từ ngày 29/08/2024 đến ngày 06/06/2025) = 32.921.244đồng] = 53.176.536đồng.

Tổng cộng là 137.588.437đồng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • - Buộc ông Nguyễn Phước T phải trả ngay cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 04/11/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 29/11/2019 tổng cộng là 137.588.437đồng trong đó nợ gốc là 84.411.901đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 06/6/2025 là 53.176.536đồng.
  • - Buộc ông Nguyễn Phước T tiếp tục thanh toán khoản nợ lãi phát sinh trên khoản tiền phải thi hành từ ngày 07/6/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 04/11/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 29/11/2019.

Ngân hàng có đơn đề ngày 23/4/2025 yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải giữa các đương sự.

Bị đơn là ông Nguyễn Phước T được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự để trình bày ý kiến, thông báo và giấy triệu tập đương sự tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn là Ngân hàng có người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Hoàng Q vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Bị đơn là ông Nguyễn Phước T được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án đến khi đưa ra xét xử và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn là Ngân hàng yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Phước T, địa chỉ: Số B đường D, Phường A (nay là phường R), Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, phải trả một lần cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 04/11/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 29/11/2019. Như vậy, đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Hoàng Q vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là ông Nguyễn Phước T được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu của đương sự:

Ngày 04/11/2020, Ngân hàng và ông Nguyễn Phước T đã ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 15/8/2016 với hạn mức sử dụng thẻ tín dụng là 80.000.000đồng, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 2,766% tháng, lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong áp dụng hiện tại là 2,766%/tháng, phí gồm có: Phí trễ hạn; Phí vượt hạn mức; Phí thường niên; Phí rút tiền mặt... Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 838.639.302đồng. Trong thời gian sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến ngày 11/3/2024, ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 759.294.537đồng. Ngày 29/8/2024, ông T thanh toán thêm số tiền là 1.237.000đồng.

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 04/11/2020, Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 15/8/2016 và Bảng tóm tắt sao kê ngày 06/6/2025 của Ngân hàng, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 11/3/2024 và tính đến ngày 06/6/2025, ông T còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 137.588.437đồng trong đó nợ gốc là 84.411.901đồng và nợ lãi quá hạn là 53.176.536đồng.

Xét thấy tiền lãi vay, lãi suất và các tiền phí được Ngân hàng xác định đúng theo thỏa thuận của các bên tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 04/11/2020 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 15/8/2016, đồng thời phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Việc ông T đã sử dụng thẻ tín dụng do Ngân hàng cấp để thanh toán tiêu dùng cá nhân nhưng không thanh toán đầy đủ nợ gốc và các khoản phí, tiền lãi đúng thời hạn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận giữa các bên. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T phải thanh toán một lần cho Ngân hàng toàn bộ số nợ còn thiếu tính đến ngày 06/6/2025 tổng cộng là 137.588.437đồng trong đó nợ gốc là 84.411.901đồng và nợ lãi quá hạn là 53.176.536đồng, đồng thời phải tiếp tục thanh toán khoản nợ lãi phát sinh từ ngày 07/6/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày ngày 04/11/2020 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 15/8/2016 là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 280, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bị đơn là ông Nguyễn Phước T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự để trình bày ý kiến, thông báo và giấy triệu tập đương sự tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án. Như vậy, ông T đã tự từ bỏ việc thực hiện quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Nguyễn Phước T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 90 và Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 280, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S:

    Ông Nguyễn Phước T có nghĩa vụ thanh toán một lần cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 04/11/2020 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 15/8/2016 tổng cộng là tổng cộng là 137.588.437đồng (một trăm ba mươi bảy triệu năm trăm tám mươi tám ngàn bốn trăm ba mươi bảy đồng) trong đó nợ gốc là 84.411.901đồng (tám mươi bốn triệu bốn trăm mười một ngàn chín trăm lẻ một đồng) và nợ lãi quá hạn là 53.176.536đồng (năm mươi ba triệu một trăm bảy mươi sáu ngàn năm trăm ba mươi sáu đồng).

    Kể từ ngày 07/6/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ, ông Nguyễn Phước T phải tiếp tục thanh toán tiền lãi trên số tiền phải thi hành tương ứng theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 04/11/2020 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 15/8/2016.

    Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Nguyễn Phước T phải chịu 6.879.422đồng (sáu triệu tám trăm bảy mươi chín ngàn bốn trăm hai mươi hai đồng).

    Ngân hàng TMCP S được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.600.224đồng (hai triệu sáu trăm ngàn hai trăm hai mươi bốn đồng) theo biên lai thu tiền số 0030818 ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Phước T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ.

  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 8;
  • - Chi cục THA dân sự Quận 8;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Ngọc Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 281/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 281/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger