|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 281/2024/HS-PT Ngày: 20/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Huấn.
Các Thẩm phán:
- Bà Đoàn Thị Hương Giang
- Bà Lê Thị Thương Huyền
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc, thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá, kiểm sát viên.
Trong ngày 20/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số 131 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 219/2024/HS-PT ngày 03/7/2024 đối với bị cáo Trần Tiễn H, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3832/2024/QĐXXPT-HS ngày 15/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 11503/2024/HSPT-QĐ ngày 05/8/2024, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án sơ thẩm số 91/2024/HSST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Trần Tiễn H; sinh năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: đường N, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: (không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Tiễn G (chết) và bà Lê Thị Kim C; vợ tên Nguyễn Thị Đoan T; chưa có con.
Tiền án, tiền sự: không;
Bắt, tạm giữ: 06/01/2024;
Tạm giam: 12/01/2024;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà E; sinh năm 1995; quốc tịch: Cộng hòa Nam Phi; nơi cư trú: đường T, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
Người phiên dịch: Bà Dương Nguyễn Thiên K; sinh năm 1998; trú tại: 403 lô D chung cư K, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 12/2023, thông qua nền tảng Facebook, bị cáo Trần Tiễn H biết được ông W có đăng tin tìm thuê căn hộ. H sử dụng tài khoản Facebook “Bảo Bảo” nhắn tin cho ông W cho biết cần cho thuê căn hộ với giá 8.000.000đ/tháng. Ông W nhắn tin gửi địa chỉ Facebook “B của H cho bạn gái là bà E. Đến ngày hôm sau, bà E nhắn tin cho H để kết nối với tài khoản Zalo “Thái KaKa” của H. Thông qua tài khoản Zalo đã nêu, H nhắn tin cho bà E, trao đổi thông tin, gửi nhiều hình ảnh căn hộ cho thuê cho bà E. Nhưng do các căn hộ cho thuê đều xa nơi làm việc nên bà E không đồng ý thuê.
Ngày 25/12/2023, H gửi cho bà E thông tin căn hộ B chung cư T, địa số 295 đường T, phường T, quận T với giá cho thuê 10.000.000đ/tháng. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, H cùng một người phụ nữ tên H1 (không rõ lai lịch, làm môi giới cho thuê căn hộ) đưa bà E đi xem căn hộ. Bà E nói để kiếm người ở chung cho nhẹ tiền thuê. Sau đó, bà E nhắn tin cho H nói bạn của bà không đồng ý thuê nên bà E không thuê nhà nữa. Do đang nợ tiền nhiều người và không có tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của bà E. H nói dối với bà E rằng chủ căn hộ đồng ý giảm giá thuê xuống còn 8.500.000đ/tháng.
Đến khoảng 18 giờ ngày 26/12/2023, bà E nhắn tin cho H biết là bà đồng ý thuê căn hộ. H chủ động hẹn gặp bà E ở tại quán cà phê “P”, địa chỉ số K đường T, phường T, quận T. Sau đó, H đến tiệm photocopy D, địa chỉ số B đường L, phường S, quận T để tải hợp đồng đặt cọc thuê căn hộ, rồi đánh tên bên cho thuê Le Dinh Diem Trinh, CCCD số 07917802891 (tên người cho thuê và số CCCD do H tự nghĩ ra). Khoảng 21 giờ cùng ngày, H điều khiển xe máy mang biển số 59N1-769.07 đến điểm hẹn gặp bà E và đưa 02 bản hợp đồng đặt cọc thuê nhà đã chuẩn bị trước cho bà E ký tên, rồi giao cho bà E 01 bản và yêu cầu bà E đưa số tiền đặt cọc là 4.500.000đ, bà E đồng ý.
Đến ngày 02/01/2024, H nhắn tin cho bà E, yêu cầu bà E chuyển 12.500.000đ đến tài khoản số 8017041385702 mang tên Nguyễn Quang Thịnh mở tại Ngân hàng Bản Việt (cộng với tiền cọc 4.500.000đ thành 17.000.000₫, tương ứng với tiền thuê căn hộ 01 tháng và tiền thế chân tương ứng với 01 tháng tiền thuê). Sau khi tiền được chuyển vào tài khoản mang tên Nguyễn Quang T
thì H liên lạc qua Zalo với Đặng Gia H2 (người đang quản lý sử dụng tài khoản ngân hàng tên Nguyễn Quang T), bảo H2 chuyển số tiền đã nêu vào tài khoản ngân hàng số 8017041367689 của H mở tại Ngân hàng Bản Việt (cũng do H2 đang quản lý, sử dụng), rồi lại tiếp tục nhờ H2 chuyển số tiền 12.500.000₫ đến tài khoản số 19032218519016 của H mở tại Ngân hàng Techcombank. Sau đó, H nhắn tin cho bà E bảo là 12 giờ ngày 02/01/2024, bà E có thể nhận nhà thuê. Sau đó, H xóa tài khoản Facebook “Bảo Bảo” và Zalo để bà E không liên lạc được. Số tiền chiếm đoạt được H đã trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 02/01/2024, bà E đến căn hộ B09.01 chung cư T thì được biết căn hộ đã cho người khác thuê, bà E liên lạc với H nhưng không được nên đã đến Công an phường Tây Thạnh trình báo sự việc.
Qua truy xét, vào ngày 04/01/2024, Công an quận X đã đưa H về trụ sở làm việc, H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Tiễn H khai: Tài khoản ngân hàng Bản Việt số 8017041385702 mang tên Nguyễn Quang Thịnh là do H mua trên nền tảng Facebook và nhờ Đặng Gia H2 quản lý. H không bàn bạc hay cho tiền Huy từ việc lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà E.
Bà E khai: Bà đến Việt Nam để kinh doanh từ ngày 08/11/2023 và làm giáo viên Tiếng Anh tại trung tâm V ở Bình Chánh. Qua xác minh hiện bà E đang lưu trú tại địa chỉ đường T, phường M, quận Tân Bình.
Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bà E 17.000.000đ. Bà E không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo (bl.138).
Tại bản Cáo trạng số 96/CT-VKSQ.TP ngày 16/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận X, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Tiễn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 91/2024/HSST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân quận X, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Trần Tiễn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2024.
Ngoài ra, bản án còn tuyên áp dụng các biện pháp tư pháp, quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự.
Ngày 04/6/2024, bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung: Mức án 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là quá nặng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết kháng cáo như sau: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập, lời khai của bị cáo tại phiên tòa, có cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo phạm tội 02 lần nên cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng cũng có tình tiết tăng nặng; phạm tội có dự mưu, hành vi phạm tội có tính chất tinh vi. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận hoặc bào chữa mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ thu thập được, có căn cứ để xác định:
Vào cuối năm 2013, vì biết được bà E có nhu cầu thuê căn hộ nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của bà E. Để thực hiện ý định này, bị cáo đã có hành vi gian dối đó là giả làm người kinh doanh dịch vụ cho thuê nhà, gửi hình ảnh các căn hộ cho bà E xem. Sau khi bà E đồng ý thuê thì bị cáo yêu cầu bà E chuyển tiền đặt cọc thuê nhà. Tin là thật nên bà E đã chuyển cho bị cáo 4.500.000đ. Tuy nhiên, bị cáo không dừng lại tại đây mà tiếp tục yêu cầu bà E chuyển cho bị cáo 12.500.000đ (gộp với 4.500.000₫ thành 17.000.000đ – tương ứng với tiền thuê nhà 01 tháng và tiền thế chân 01 tháng). Để làm cho bà E tin tưởng, bị cáo đã làm giả hợp đồng thuê nhà giao cho bà E. Tin là thật nên bà E đã tiếp tục chuyển cho bị cáo 12.500.000đ thông qua tài khoản ngân hàng do bị cáo chỉ định.
Bị cáo đã sử dụng số tiền chiếm đoạt của bà E vào mục đích tiêu xài.
[2].Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được luật pháp bảo vệ, xâm phạm đến an toàn công cộng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là sai trái nhưng vì động cơ vụ lợi nên vẫn cố ý vi phạm.
[3]. Căn cứ vào các nhận định đã nêu, đối chiếu với quy định của pháp luật, có đủ căn cứ kết luận bị cáo đã phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[4]. Kháng cáo của bị cáo:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi hoàn cho bà E 17.000.000đ. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ.
Bị cáo phạm tội 02 lần. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự là đúng pháp luật.
Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng cũng có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Việc phạm tội có dự mưu tính toán trước, có tính chất tinh vi, sử dụng tài khoản Facebook, tài khoản Zalo, tài khoản ngân hàng không hợp pháp và nhiều tài khoản ngân hàng của bị cáo để làm phương tiện phạm tội, tránh bị phát hiện. Hành vi phạm tội có mức độ nguy hiểm cao. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, cần chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5].Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tiễn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm 91/2024/HSST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trần Tiễn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2024.
- Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Công Huấn |
Bản án số 281/2024/HS-PT ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 281/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRẦN TIỄN HƯNG PHẠM TỘI "LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN"
