|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 281/2024/HS-ST Ngày: 26-11-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Dựa
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Thị Nga
- Bà Nguyễn Ngọc Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phước – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh T - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 323/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1972 tại Cần Thơ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Chỗ ở: B N, Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Q và bà Trần Thị S; Bị cáo chưa có vợ. Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2024. (Có mặt)
- Bị hại: Bà Trịnh Thị Kim H1, sinh năm 1956 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, đường số D, ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Quốc C, sinh năm: 1976 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: 3 V, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
+ Hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ H.
Chủ hộ kinh doanh: Ông Hoàng Văn S1, sinh năm: 1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: 5 P, ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn H thuê phòng số 13 địa chỉ B, ấp B, xã T, huyện B để sinh sống và sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 61H4-7776 để đăng ký chạy xe ôm công nghệ thông qua ứng dụng “Be”. Xe mô tô của H là xe đã cũ và thường xuyên hư hỏng nên rất ít khách đặt xe của H.
Vào khoảng 13 giờ ngày 17/6/2024, Phan Văn H đậu xe mô tô biển số 61H4-7776 tại khu vực Bệnh viện N thuộc xã T để đón khách. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, do không có khách nên H điều khiển xe mô tô về Cầu K thuộc xã T. Khi đến trước nhà số F T, ấp B, xã T thì H nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ biển số 59N1-664.55 của bà Trịnh Thị Kim H1 đang dựng ven đường, chìa khoá xe được cắm sẵn trên ổ khoá, còn bà H1 đang đứng bên cạnh xe mô tô để mua rau. Thấy vậy, H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của bà H1 để làm phương tiện chạy xe ôm công nghệ. H điều khiển xe mô tô biển số 61H4-7776 đến dừng sát ngay phía sau đuôi xe mô tô biển số 59N1-664.55 của bà H1. H dựng chống xe, đi bộ nhanh đến vị trí xe mô tô biển số 59N1-664.55, lên xe và đề nổ máy xe. Lúc này, bà H1 phát hiện nên dùng 02 tay nắm vào cản sau xe mô tô biển số 59N1-664.55 giữ lại. H nhanh chóng tăng ga xe làm bà H1 buông tay ra rồi H điều khiển xe mô tô vừa cướp giật được về hướng Cầu K, thuộc xã T tẩu thoát. Sau đó, H chạy xe về phòng trọ của H tại phòng số 13 địa chỉ B, ấp B, xã T, huyện B cất giấu. Tại đây, H mở cốp xe mô tô ra kiểm tra thì phát hiện 01 ví da màu hồng bên trong có giấy tờ tuỳ thân và Giấy đăng ký xe, Giấy phép lái xe mang tên Trịnh Thị Kim H1 nên H lấy ra cất giữ tại phòng trọ. Đến ngày 18/6/2024, do không có tiền trả tiền thuê trọ nên H mang Giấy đăng ký xe mô tô biển số 59N1-664.55 đến tiệm cầm đồ “Hoàng Sơn 2” địa chỉ 5 P, ấp T, xã B, huyện H cầm cho Hoàng Văn S1 với số tiền 700.000 đồng. S1 thấy thông tin trên Giấy đăng ký xe và xe mô tô H đang sử dụng trùng khớp nên S1 đồng ý cầm giấy tờ cho H.
Đến 16 giờ ngày 17/6/2024, bà Trịnh Thị Kim H1 đến Công an xã T trình báo vụ việc. Công an xã T tiến hành truy xét đưa Phan Văn H về trụ sở làm việc, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô biển số 59N1-664.55 của bà H1 và xe mô tô biển số 61H4-7776 do H bỏ lại hiện trường, sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B điều tra, xử lý (Bút lục 37-72).
Kết luận định giá tài sản số 2257/KL-HĐĐGTS ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ biển số 59N1-664.55 trị giá 13.300.000 đồng (Bút lục 32-35).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Phan Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản như đã nêu trên, lời khai của H phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án (Bút lục 180-183).
Cáo trạng số 299/CT-VKS ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố các bị cáo Phan Văn H về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 171 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Phan Văn H từ: 01 (năm) 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Về dân sự:
- Bị hại bà Trịnh Thị Kim H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ H3 có chủ hộ kinh doanh là ông Hoàng Văn S1 không yêu cầu bồi thường đối với số tiền cầm đồ là 700.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 USB chứa đoạn video ghi nhận hình ảnh vụ cướp giật tài sản và 01 đĩa DVD ghi âm ghi hình lời khai của Phan Văn H, được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
- 01 biên nhận cầm Căn cước công dân và Giấy phép lái xe số 0201 và 01 biên nhận cầm Giấy đăng ký xe máy số 0363, được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ biển số 59N1-664.55, số máy JF33E0398793, số khung: RLHJF3319DY326251 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 59N1-664.55; 01 ví da màu hồng bên trong có Hộ chiếu, Giấy phép lái xe mang tên Trịnh Thị Kim H1 qua điều tra xác định đây là tài sản của bị hại nên Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho bà H1.
- 01 Căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe mang tên Phan Văn H;
- 01 mũ bảo hiểm loại nữa đầu màu xanh lá - đen có chữ Gojek màu trắng; 01 áo thun tay ngắn màu xanh dương; 01 áo khoác màu vàng - xanh dương có chữ Be; 01 quần jean xám dài.
- 01 xe mô tô biển số 61H4-7776, số máy VTTJL1P52FMHN011318, số khung: RRKWCH0UM5XP11318. Qua xác minh, số khung số máy trên là của xe mô tô có biển số 61N2-8862 do ông Nguyễn Văn H2 đứng tên Giấy đăng ký xe, hiện ông H2 không có mặt tại địa phương, người nhà anh H2 cho biết ông H2 đã bán xe trên cho người không rõ lai lịch. Đối với biển số xe 61H4-7776 qua xác minh là xe có số khung số máy khác do ông Nguyễn Quốc C đứng tên giấy đăng ký xe, ông C đã bán xe trên cho người không rõ lai lịch. Công an huyện B đã đăng báo tìm chủ sở hữu phương tiện nhưng đến nay chưa có kết quả.
Các vật chứng từ mục (4) đến (6), đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh tạm giữ chờ xử lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 17/6/2024, bị cáo Phan Văn H đã công khai chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ biển số 59N1-664.55 của bà Trịnh Thị Kim H1 đang dựng ven đường tại địa chỉ F T, Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại đã nắm vào cản xe mô tô biển số 59N1-664.55 để giữ lại, tuy nhiên bị cáo đã tăng ga xe làm bà H1 buông tay ra rồi điều khiển xe về hướng Cầu K, xã T để tẩu thoát. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo, ngang nhiên nơi đường phố đông người qua lại; gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương; làm ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có công việc ổn định nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại bà Trịnh Thị Kim H1 đã nhận lại tài sản theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 17/9/2024 và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ H3 có chủ hộ kinh doanh là ông Hoàng Văn S1 không yêu cầu bồi thường đối với số tiền cầm đồ là 700.000 đồng nên không xem xét.
[6] Xử lý vật chứng:
[6.1] Đối với 01 USB chứa đoạn video ghi nhận hình ảnh vụ cướp giật tài sản và 01 đĩa DVD ghi âm ghi hình lời khai của Phan Văn H, được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
[6.2] Đối với 01 biên nhận cầm Căn cước công dân và Giấy phép lái xe số 0201 và 01 biên nhận cầm Giấy đăng ký xe máy số 0363, được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
[6.3] Đối với 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu xanh lá - đen có chữ Gojek màu trắng; 01 áo thun tay ngắn màu xanh dương; 01 áo khoác màu vàng - xanh dương có chữ Be; 01 quần jean xám dài. Những vật chứng này không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[6.4] Đối với 01 Căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe mang tên Phan Văn H trả lại cho bị cáo.
[6.5] Đối với 01 xe mô tô biển số 61H4-7776, số máy VTTJL1P52FMHN011318, số khung: RRKWCH0UM5XP11318. Qua xác minh, số khung số máy trên là của xe mô tô có biển số 61N2-8862 do Nguyễn Văn H2 đứng tên Giấy đăng ký xe, hiện anh H2 không có mặt tại địa phương, người nhà anh H2 cho biết anh H2 đã bán xe trên cho người không rõ lai lịch. Đối với biển số xe 61H4-7776 qua xác minh là xe có số khung số máy khác do Nguyễn Quốc C đứng tên giấy đăng ký xe, anh C đã bán xe trên cho người không rõ lai lịch. Tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 12 (mười hai) tháng để tìm chủ sở hữu hợp pháp. Trong thời hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước; trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với chiếc xe này sẽ được giải quyết trong một vụ án dân sự khác.
[7] Về án phí sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phan Văn H: 02 (hai) năm tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ 20/6/2024.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Trả lại cho bị cáo Phan Văn H: 01 (một) Căn cước công dân, 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Phan Văn H.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu xanh lá - đen có chữ Gojek màu trắng; 01 (một) áo thun tay ngắn màu xanh dương; 01 (một) áo khoác màu vàng - xanh dương có chữ Be; 01 (một) quần jean xám dài.
- - Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 61H4-7776, số máy VTTJL1P52FMHN011318, số khung: RRKWCH0UM5XP11318. Tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 12 (mười hai) tháng để tìm chủ sở hữu hợp pháp. Trong thời hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với chiếc xe này sẽ được giải quyết trong một vụ án dân sự khác.
Bảo lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB chứa đoạn video ghi nhận hình ảnh vụ cướp giật tài sản và 01 (một) đĩa DVD ghi âm ghi hình lời khai của Phan Văn H và 01 (một) biên nhận cầm Căn cước công dân và Giấy phép lái xe số 0201 và 01 (một) biên nhận cầm Giấy đăng ký xe máy số 0363 .
(Các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2024 giữa công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Dựa |
Bản án số 281/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 281/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
