Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 281/2024/HS-ST

Ngày 06-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh

Bà Nguyễn Thị Kim Chi

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Sỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 134/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 119/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 298/2024/HSST-QĐ ngày 08/4/2024, Thông báo thay đổi thời gian xét xử ngày 25/4/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 467/2024/HSST-QĐ ngày 24/5/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Châu Huy T, sinh năm 1998, tại tỉnh Sóc Trăng;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố D, phường Đ, thị xã H, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Thuê trọ tại khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Bán kẹo kéo; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Châu Văn L (đã chết) và bà Đào Kim U; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 1567/LTG ngày 28/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị C, sinh năm 1997, tại tỉnh Sóc Trăng;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Thuê trọ tại khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1971; có chồng Châu L2 và có 04 người con ( lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh ngày 01/10/2023).

Nhân thân: tại bản án số 353/2015/HS-ST ngày16/9/2015, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "không tố giác tội phạm".

Tiền án: tại bản án số 49/2018/HS-ST Ngày 24/07/2018, Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".

Tiền sự: không.

Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam C2, tỉnh Cà Mau từ ngày 21/12/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Châu Huy T, và Nguyễn Thị C là các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý và ở cùng nhà trọ không số thuộc khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (T ở phòng số 02, C ở phòng số 05, C là chị dâu của T).

Khoảng 18 giờ ngày 18/09/2023, T rủ C góp tiền mua ma tuý về cùng sử dụng. C đồng ý và góp 50.000đồng (năm mươi nghìn đồng), T góp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng), tổng cộng được 250.000đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng). T cầm số tiền nêu trên và điều khiển xe mô tô biển số 62K9- 9808 đi đến đoạn Quốc lộ A thuộc phường T, thành phố B gặp người thanh niên tên T1 (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma tuý với giá 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) và 01 nỏ thuỷ tinh giá 50.000đồng (năm mươi nghìn đồng). Sau đó, T mang số ma tuý trên cùng nỏ thuỷ tinh về gặp C. Lúc này C thấy phòng trọ số 01 của nhà trọ nêu trên (phòng của Nguyễn Thanh P là em trai C, sinh năm 2004, ngụ tại khu A, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thuê để ở) anh P đi làm không khoá cửa và không có ai ở trong phòng nên đã rủ T đến phòng số 01 để cùng nhau sử dụng ma tuý, T đồng ý.

Khoảng 05 phút sau, TC đi qua phòng trọ số 01 nêu trên, T dùng chiếc nỏ thuỷ tinh cùng với 01 vỏ hộp sữa chua và 01 ống hút để chế ra 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý. Sau đó, T lấy gói ma tuý ra đồ một nửa ma tuý vào nỏ thuỷ tinh, C dùng bật lửa đốt vào lọ thuỷ tinh (nấu ma tuý) rồi cùng T thay nhau sử dụng. Phần ma tuý còn lại T tiếp tục cất giấu để sử dụng dần. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì CT ngừng sử dụng ma tuý. T cất giấu gói ma tuý đá còn lại vào trong túi áo T đang mặc và cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (còn dính ma tuý bên trong nỏ) vào túi xách màu đen đeo trên người rồi đi bán kẹo kéo.

Đến khoảng 23 giờ 30 phút, T về phòng trọ số 02 của mình rồi lấy gói ma tuý đang cất giấu trong người đổ 01 phần vào bộ dụng cụ và sử dụng ma tuý một mình trong nhà vệ sinh. Phần ma tuý còn lại T tiếp tục cất giấu mục đích sử dụng.

Khoảng 01 giờ ngày 19/09/2023, T cất giấu gói ma tuý còn lại vào gói thuốc lá rồi bỏ vào túi áo T đang mặc và cất giấu 01 nỏ thuỷ tinh (còn dính ma tuý đá) trong túi xách đen đeo trên người sau đó điều khiển xe mô tô biển số 62K9-9808 đi mua đồ ăn khuya. Khi T đi đến đoạn đường C thuộc ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Sau đó, vụ án được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo thẩm quyền.

Sau khi biết T bị bắt, khoảng 10 giờ ngày 19/09/2023, C đến Công an xã H 3, huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, Châu Huy TNguyễn Thị C đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

(Biên bản kiểm tra hành chính và thu giữ tang vật: bút lục 01-21; Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú Bút lục17-18; Lời khai bị can: bút lục số 68- 84, 112- 124; Biên bản nhận dạng, đổi chất: Bút lục 27-28; Lời khai của người liên quan bút lục số: 125-131)

* Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 gói Methamphetamine được niêm phong có chữ ký của Châu Huy T và dấu mộc tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (ký hiệu M1).
  • - 01 nỏ thuỷ tinh bên trong vẫn còn dính Methamphetamine có chữ ký của Châu Huy T, điểm chỉ vân tay của Nguyễn Thị C và dấu mộc tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (ký hiệu M2).
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave (màu đỏ) biển số: 62K9-9808 do Châu Huy T sử dụng đi mua ma tuý. T khai đây là xe mượn của Châu L2 (sinh năm 1996, ngụ tại khu phố D, xã Đ, huyện H, Kiên Giang, là anh trai của T) để đi công việc. Qua tra cứu, xác định xe mô tô nêu trên do anh Trần Minh C1 (sinh năm 1986, ngụ tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An) đứng tên trên giấy chứng nhận xe. Anh C1 khai đã mua xe trên vào tháng 04/2017 và khoảng tháng 06/2010 anh C1 đã bán xe cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) ở cùng dãy trọ với giá 6.000.000đồng (sáu triệu đồng) nhưng không làm thủ tục sang tên. Hiện người này đã chuyển đi nơi khác, không xác định được lai lịch. Anh Châu L2 khai đã mua chiếc xe trên từ một người thanh niên không rõ lai lịch, tuy nhiên anh L2 không cung cấp được giấy tờ liên quan. Hiện chưa xác định được chủ sở hữu của chiếc xe mô tô biển số 62K9-9808 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố B tách ra xử lý sau.

*Tại bản Kết luận giám định số 2096/KL-KTHS ngày 26/09/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:

  • - Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,0452 gam, loại: Methamphetamine.
  • - Mẫu chất màu vàng đục (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine. (Bút lục số: 23) Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên,

Tại bản Cáo trạng số: 145/CT/VKS-BH ngày 06/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo Châu Huy TNguyễn Thị C về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Châu Huy T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm n, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nguyễn Thị C từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Lời nói sau cùng: các bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: tại phiên toà, ban đầu hai bị cáo quanh co không thừa nhận hành vi phạm tội, đặc biệt là bị cáo Nguyễn Thị C. Bị cáo C cho rằng bị cáo không chung tiền mua ma tuý, không sử dụng ma tuý cùng T; T cũng khai nại là chỉ một mình bị cáo tự bỏ tiền mua ma tuý về sử dụng, C không tham gia. Tuy nhiên sau khi công khai các bản tường trình của các bị cáo tự viết (C có chồng là Châu L2 viết và đọc cho nghe), biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, biên bản, biên bản đối chất, phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý, lời khai người làm chứng, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; các bị cáo đã khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/9/2023, tại phòng trọ số 1 của nhà trọ không số thuộc khu phố H, phường L, thành phố B, Châu Huy TNguyễn Thị C có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 19/09/2023, khi T đang có hành vi tàng trữ 0,0452 gam ma tuý loại Methamphetamine cùng 01 nỏ thuỷ tinh thì bị Cơ quan Công an xã H 3, huyện T kiểm tra phát hiện. Đến 10 giờ cùng ngày, C đến Cơ quan Công an xã H 3, huyện T đầu thú.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân và yếu tố tiềm ẩn phát sinh các loại tội phạm khác, làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

- Về tội danh: từ căn cứ trên, xác định các bị cáo Châu Huy T, Nguyễn Thị C đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo Khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản Cáo trạng số 145/CT-VKSBH ngày 06/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo Châu Huy T, Nguyễn Thị C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Về nhân thân: Bị cáo Châu Huy T chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Thị C bị Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “không tố giác tội phạm” tại bản án số 353/2015/HS-ST ngày 16/9/2015.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo C đầu thú, phạm tội khi đang mai thai thuộc trường hợp quy định tại điểm n Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị C có một tiền án về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xoá án tích nên được xác định là tái phạm thuộc điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Về tính chất đồng phạm, phân hoá vai trò và cá thể hoá trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ, phân công vai trò mà chỉ rủ rê cùng thực hiện ngay hành vi phạm tội nên không xem là đồng phạm có tổ chức. Bị cáo T là người rủ rê, góp tiền mua ma tuý và chế tạo công cụ sử dụng ma tuý. Bị cáo C góp tiền và cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý với T. Do đó, T chịu trách nhiệm cao hơn C.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[3] Về vật chứng và các vấn đề khác có liên quan vụ án:

  • - Đối với 01 gói Methamphetamine được niêm phong có chữ ký của Châu Huy T và dấu mộc tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, sau giám định không còn nên không xem xét.
  • - Đối với 01 nỏ thuỷ tinh được các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội không có giá trị nên tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave (màu đỏ) biển số: 62K9-9808 Châu Huy T sử dụng đi mua ma tuý. Hiện chưa xác định được chủ sở hữu của chiếc xe mô tô trên nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố B tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
  • - Đối với người thanh niên tên T1 (không rõ lai lịch) có hành vi bán ma tuý cho T do chưa xác minh được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố B tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.
  • - Đối với Châu Huy T có hành vi tàng trữ 0,0452 gam ma tuý loại Methamphetamine mục đích để sử dụng. Do khối lượng ma tuý tàng trữ không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý đối với T về hành vi này là đúng quy định pháp luật.

[4] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:

  • - Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử. Riêng bị cáo C do có tính chất tái phạm, nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt nghiêm hơn so với đề xuất của đại diện Viện Kiểm sát.
  • - Đối với phần trình bày của các bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Về tội danh: xác định các bị cáo Châu Huy T, Nguyễn Thị C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt:

Căn cứ Khoản 1 Điều 255, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự 2015

+ Xử phạt bị cáo Châu Huy T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2023.

Căn cứ Khoản 1 Điều 255, điểm n, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 17, 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù tại bản án số 49/2018/HS-ST Ngày 24/07/2018 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử về tội "Trộm cắp tài sản"; buộc bị cáo C chấp hành hình phạt chung là: 03 (ba) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

- Tịch thu tiêu hủy 01 nỏ thuỷ tinh.

(vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi Cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 5 năm 2024).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Châu Huy T, Nguyễn Thị C phải nộp mỗi bị cáo 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân Tp.Biên Hòa;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự; Nhà tạm giữ - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi Cục Thi hành án Dân sự Tp.Biên Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 281/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 281/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Châu Huy T và ĐP tổ chức sử dung TP chất MT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger