| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 281/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24/9/2024
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Trần Thục Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lâm Văn Vô
- Ông Đoàn Hồng Hải
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, về việc ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn 180/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1991
Thường trú : B ấp P, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Bị đơn: Ông Hồ Anh T, sinh năm 1989
Cư trú: 101 Lô A, chung cư C, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 5 năm 2024 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết L (sau đây gọi tắt là bà L) trình bày:
Bà và ông Hồ Anh T (sau đây gọi tắt là ông T) quen biết và sống chung năm 2018, đăng ký kết hôn năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Trong thời gian sống chung thời gian đầu hạnh phúc, sau này do ông T có tính nóng nảy nên cả hai thường xuyên gây gỗ mâu thuẫn ngày càng trầm trọng vì vậy bà L về nhà mẹ ruột ở quê chờ sinh. Bà L, ông T đã ly thân hơn 5 năm từ khi bà có bầu đến nay nên bà L yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống riêng.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết L xác định bà và ông Hồ Anh T không tạo lập tài sản chung vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết L xác định bà và ông Hồ Anh T không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết L và ông Hồ Anh T có một người con chung tên Hồ Ngọc Trâm A, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2019, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng.
Bị đơn ông Hồ Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án vào ngày Toà mở phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên không có lời trình bày. Ngày 30 tháng 8 năm 2024 ông T xin hoãn phiên xử vì mong muốn được gặp bà Nguyễn Thị Tuyết L trao đổi về việc nuôi con Hồ Ngọc Trâm A, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2019 ngoài ra ông T không có lời trình bày về mâu thuẫn hôn nhân, cũng như xác định về tài sản chung và nợ chung.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên không rõ ý kiến.
Sau khi xem xét tài liệu chứng cứ tại hồ sơ vụ án:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng :
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, thời hiệu, quan hệ pháp luật tranh chấp. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Cũng như phát biểu ý kiến về quan điểm giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn cho bà Nguyễn Thị Tuyết L được ly hôn với ông Hồ Anh T và được nuôi con chung Hồ Ngọc Trâm A, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2019. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con vì bà L hiện chưa có yêu cầu.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền của Tòa án: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết L Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về việc “Ly hôn”. Bị đơn ông Hồ Anh T hiện đang cư trú tại Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 5 căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Tuyết L và ông Hồ Anh T sống chung từ năm 2019 có đăng ký kết hôn số 16 ngày 26 tháng 3 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long nên hôn nhân của bà L, ông T là hợp pháp.
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau.
Xét tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị Tuyết L và ông Hồ Anh T cho thấy:
Cuộc sống hôn nhân của bà L, ông T chỉ kéo dài trong vòng một năm đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm và lối sống khác biệt. Trong khoảng thời gian này, bà L và ông T thường xuyên cãi vã, xung đột làm cuộc sống hôn nhân luôn trong tình trạng căng thẳng, khiến đời sống chung trở nên mệt mỏi, mâu thuẫn gay gắt. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện nhằm cố gắng hòa giải, song vẫn không thể giải quyết. Đỉnh điểm là việc bà L về nhà mẹ ruột ở Vĩnh Long từ 2019 đến nay, mạnh ai nấy sống, không quan tâm yêu thương, chăm sóc nhau. Bà L, ông T đã ly thân hơn 5 năm như vậy thật chất hôn nhân của cả hai đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà L cương quyết ly hôn với ông T mặc dù đã được Tòa án phân tích, động viên hòa giải đoàn tụ nhưng bà L vẫn không đồng ý hàn gắn.
Ngoài ra trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Toà án nhân dân Quận 5 đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhằm bảo vệ quyền lợi của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn, nhưng ông T chỉ bận tâm muốn gặp bà L để trao đổi về việc nuôi con chung không bận tâm đến việc hàn gắn tình cảm hôn nhân với bà L. Ngày xét xử ông T cũng vắng mặt điều đó chứng tỏ ông T cũng không muốn níu kéo trở về với bà L nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 và chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho bà L được ly hôn với ông T căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 vì xét thấy cả hai đã ly thân quá lâu hiện bà L cũng không còn tình cảm với ông T nhằm ổn định cuộc sống cho cả hai là có cơ sở.
[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết L và ông Hồ Anh T có một người con chung tên Hồ Ngọc Trâm A, bà L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng. Từ ngày con chung Hồ Ngọc T1 Anh sinh ra đến nay đã được bà L là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng ông T không quyết tâm xuống Vĩnh Long hỗ trợ hay chăm sóc con, cháu A vẫn phát triển bình thường, được bà L nuôi dưỡng đầy đủ không thiếu thốn gì, ngoài ra cháu A là bé gái, còn nhỏ rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ trong việc ăn, uống, ngủ nghỉ và hiện tại cháu đã quen cuộc sống khi sống chung với bà L, nên xét về thời gian để chăm sóc mọi mặt cho cháu A thì bà L có nhiều thời gian và điều kiện chăm sóc hơn ông T vì vậy, việc bà L được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là có căn cứ, đảm bảo sự phát triển toàn diện về mọi mặt của cháu Hồ Ngọc Trâm A, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2019. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông T, do bà L hiện chưa có yêu cầu. Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết L xác định bà và ông Hồ Anh T không tạo lập tài sản chung nên nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết L và ông Hồ Anh T xác định không có khoản nợ nào chung và cũng không phải thực hiện nghĩa vụ dân sự với cá nhân, cơ quan, tổ chức nào nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết L chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; các Điều 227; 228; 266; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 các Điều 57; 58; 68; 69; 71; 72 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết L và vắng mặt bị đơn là ông Hồ Anh T.
2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Tuyết L và ông Hồ Anh T.
2.1 Về con chung: Giao con chung Hồ Ngọc Trâm A, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2019 cho bà Nguyễn Thị Tuyết L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
2.2 Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Hồ Anh T do bà Nguyễn Thị Tuyết L chưa có yêu cầu.
2.3 Sau khi ly hôn, ông Hồ Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom chăm sóc con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc xác định mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
2.4 Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết L xác định bà và ông Hồ Anh T không tạo lập tài sản chung nên nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
2.5 Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết L xác định bà và ông Hồ Anh T không có khoản nợ nào chung và cũng không phải thực hiện nghĩa vụ dân sự với cá nhân, cơ quan, tổ chức nào nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23P/0036175 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ tiền án phí.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận đựợc bản án hoặc được niêm yết bản án hợp lệ.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN Huỳnh Trần Thục Oanh |
Bản án số 281/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 281/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cuộc sống hôn nhân của bà L, ông T chỉ kéo dài trong vòng một năm đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm và lối sống khác biệt. Trong khoảng thời gian này, bà L và ông T thường xuyên cãi vã, xung đột làm cuộc sống hôn nhân luôn trong tình trạng căng thẳng, khiến đời sống chung trở nên mệt mỏi, mâu thuẫn gay gắt. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện nhằm cố gắng hòa giải, song vẫn không thể giải quyết. Đỉnh điểm là việc bà L về nhà mẹ ruột ở Vĩnh Long từ 2019 đến nay, mạnh ai nấy sống, không quan tâm yêu thương, chăm sóc nhau. Bà L, ông T đã ly thân hơn 5 năm như vậy thật chất hôn nhân của cả hai đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà L cương quyết ly hôn với ông T mặc dù đã được Tòa án phân tích, động viên hòa giải đoàn tụ nhưng bà L vẫn không đồng ý hàn gắn.
